Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp là hệ thống các tiêu chí lâm sàng và cận lâm sàng. Dựa vào đó, bác sĩ có thể xác định bệnh chính xác và đưa ra phương pháp điều trị tối ưu. Vậy, tiêu chuẩn vàng chẩn đoán viêm khớp dạng thấp gồm những gì?
Các tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp hiện nay
Viêm khớp dạng thấp (tiếng Anh: Rheumatoid Arthritis – RA) là một bệnh tự miễn, nghĩa là hệ miễn dịch tấn công nhầm vào các mô khớp trong cơ thể, gây viêm lâu dài, đau nhức và cứng khớp. Nếu không điều trị kịp thời, bệnh có thể gây biến dạng khớp, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng vận động. Do đó, người bệnh cần được chẩn đoán viêm khớp dạng thấp sớm và điều trị ngay từ đầu để đạt hiệu quả tối ưu.
Bệnh viêm khớp dạng thấp có thể được chẩn đoán dựa trên những tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR) hoặc Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống Thấp khớp Châu Âu 2010 (ACR/EULAR). Cụ thể như sau:
1. Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR) 1987
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp ACR 1987 gồm các tiêu chí (1):
Cứng khớp buổi sáng, kéo dài trên 1 giờ.
Có khoảng 3 trong 14 nhóm khớp bị sưng mô mềm hoặc tràn dịch, gồm khớp bàn ngón chân, khớp cổ chân, khớp gối, khớp khuỷu tay, khớp cổ tay, khớp liên đốt gần, khớp bàn tay.
Bị sưng ở 1 trong các nhóm khớp ở bàn tay: khớp cổ tay, khớp ngón gần hoặc khớp bàn ngón tay.
Tình trạng viêm thường xảy ra ở các khớp đối xứng
Xét nghiệm yếu tố dạng thấp trong huyết thanh dương tính (tuy nhiên có thể dương tính khoảng 5% trong dân số bình thường).
Xuất hiện các nốt dưới da hoặc xương nhô ra ở vùng gần khớp tổn thương.
Chụp X-quang cho thấy những dấu hiệu như dấu hiệu hủy xương hoặc loãng xương quanh khớp,…
Cứng khớp vào buổi sáng và kéo dài khoảng 1 tiếng là một trong những tiêu chí đánh giá RA theo ACR 1987
Đối với tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp này, người bệnh được xem là mắc RA khi có khoảng 4 tiêu chí. Trong đó, các triệu chứng viêm khớp và cứng khớp phải kéo dài trên 6 tuần. Ở những trường hợp bệnh đã tiến tiến triển, tiêu chuẩn này có độ nhạy 91 – 94% và độ đặc hiệu khoảng 89%.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, tình trạng các nốt dưới da tương đối hiếm gặp. Khi chẩn đoán, người bệnh cần được theo dõi những dấu hiệu khác như teo cơ, viêm mạch máu, viêm mống mắt…
2. Tiêu chuẩn của Hội Thấp khớp học Hoa Kỳ và Liên đoàn chống Thấp khớp Châu Âu 2010 (ACR/EULAR 2010)
Đây là tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp mới tính đến hiện tại, hỗ trợ phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm và phân biệt với những bệnh lý liên quan. Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp 2010 của ACR/EULAR được áp dụng cho những đối tượng gồm (2):
Có 1 trong các khớp bị viêm màng hoạt dịch rõ ràng trên lâm sàng.
Bị viêm màng hoạt dịch không do những bệnh khác.
Tổn thương khớp dưới 6 tuần.
Người bệnh có khả năng mắc RA nếu đạt trên 6 điểm với các tiêu chí:
Triệu chứng ở khớp:
Biểu hiện ở 1 khớp lớn (vai, khuỷu tay, khớp háng, đầu gối và mắt cá chân): 0 điểm
Biểu hiện ở 2 – 10 khớp lớn: 1 điểm
Biểu hiện ở 1 – 3 khớp nhỏ như khớp bàn ngón tay, khớp liên đốt ngón tay gần… và có hoặc không liên quan đến các khớp lớn: 2 điểm
Biểu hiện ở 4 – 10 khớp nhỏ và có hoặc không liên quan đến các khớp lớn: 3 điểm
Biểu hiện ở 10 khớp trở lên và tối thiểu 1 khớp nhỏ: 5 điểm.
Bác sĩ sẽ đánh giá biểu hiện ở các khớp để đưa ra chẩn đoán
Bác sĩ sẽ chỉ định những phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng phù hợp dựa trên kết quả thăm khám lâm sàng. Điều này giúp phát hiện sớm những tổn thương bên trong khớp và những cấu trúc liên quan, đánh giá mức độ tổn thương và phân biệt với những bệnh lý có biểu hiện tương tự. Qua đó, bác sĩ có thể đưa ra chẩn đoán chính xác và xây dựng phác đồ điều trị thích hợp.
Những phương pháp cận lâm sàng phổ biến để chẩn đoán viêm khớp dạng thấp gồm:
Khám cơ năng: đau và sưng khớp có tính chất đối xứng, phổ biến gồm vai, khuỷu tay, bàn tay, đầu gối và bàn chân; cột sống ít bị ảnh hưởng nhưng có thể bị mất ổn định, gây trật khớp đốt sống cổ; cơn đau thường tăng lên vào ban đêm và sáng sớm, không thuyên giảm cả khi nghỉ ngơi; cứng khớp vào buổi sáng; triệu chứng toàn thân như suy nhược, mệt mỏi…
Khám thực thể tại khớp: kiểm tra các khớp để phát hiện sự biến dạng, sưng nóng, vị trí đau nhức, các hạt dưới da; thực hiện các bài kiểm tra để đánh giá chức năng, tầm vận động khớp.
Kiểm tra các triệu chứng ngoài khớp như: Các nốt thấp khớp, tổn thương mắt, tổn thương da: loét chân, viêm da mủ hoại thư, viêm mạch da, tổn thương tim – phổi. Ngoài ra còn ảnh hưởng đến cơ quan khác thương khác như : gan to, teo cơ, đứt gân, chèn ép thần kinh ngoại biên, bệnh amyloid (hiếm gặp)… Hay hội chứng Felty
Xét nghiệm ACPA: Đây là xét nghiệm cung cấp độ đặc hiệu cao đối với những người mắc RA ở giai đoạn sớm, giúp phát hiện bệnh trước khi xuất hiện triệu chứng lâm sàng. Phương pháp này được thực hiện dựa trên mẫu huyết thanh hoặc huyết tương của người bệnh thông qua kỹ thuật định lượng miễn dịch hóa phát quang.
Xét nghiệm RF: Đây là xét nghiệm định lượng yếu tố dạng thấp (RF) trong máu, một tự kháng thể (Autoantibody) do hệ miễn dịch tạo ra nhưng tấn công nhầm các mô của cơ thể. Khoảng 60 – 70% người mắc viêm khớp dạng thấp có chỉ số RF tăng cao bất thường. Tuy nhiên, một số trường hợp RF ở mức bình thường vẫn có khả năng mắc bệnh. Vì vậy, xét nghiệm này thường được thực hiện đồng thời cùng với xét nghiệm Anti-CCP hoặc những xét nghiệm khác để đưa ra chẩn đoán chính xác.
Xét nghiệm protein phản ứng C (CRP): Protein phản ứng C là một chất chỉ định sinh học, báo hiệu tình trạng viêm cấp hoặc mạn tính trong cơ thể. Xét nghiệm này không đặc hiệu cho một bệnh lý cụ thể nào nhưng có thể được chỉ định để xác định dấu hiệu viêm hoặc đánh giá hiệu quả điều trị.
Xét nghiệm tốc độ lắng máu (ESR): Phương pháp này kiểm tra tốc độ lắng hồng cầu xuống đáy ống nghiệm có chứa mẫu máu trong 1 – 2 tiếng. Tương tự CRP, xét nghiệm tốc độ lắng máu không phải chẩn đoán đặc hiệu nhưng có thể giúp bác sĩ phát hiện tình trạng viêm. Để chẩn đoán chính xác người bệnh có mắc RA hay không cần kết hợp thêm những phương pháp cận lâm sàng khác.
Chẩn đoán và điều trị viêm khớp dạng thấp ở đâu tốt?
Trung tâm Chấn thương Chỉnh hình, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh là địa chỉ khám, chẩn đoán và điều trị viêm khớp dạng thấp cũng như những bệnh lý xương khớp khác được nhiều người tin tưởng. Bệnh viện quy tụ đội ngũ chuyên gia, bác sĩ có chuyên môn cao và giàu kinh nghiệm điều trị đa dạng các bệnh lý xương khớp.
Tại đây còn trang bị hệ thống máy móc, trang thiết bị tối tân như máy cộng hưởng từ Magnetom Amira BioMatrix; hệ thống máy chụp cắt lớp vi tính CT 100.000 lát cắt, 1975 lát cắt và 768 lát cắt; máy đo mật độ xương… Điều này giúp nâng cao độ chính xác trong quá trình chẩn đoán và điều trị, khắc phục tối đa những hạn chế của các phương pháp truyền thống.
Bệnh viện đầu tư hệ thống cơ sở vật chất khang trang, khu nội trú đầy đủ tiện nghi, khu vực tập phục hồi chức năng hiện đại, áp dụng mức bảo hiểm cao… Tất cả giúp mang lại cho khách hàng sự thuận tiện và chu đó khi thăm khám và điều trị ở Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Bài viết đã chia sẻ thông tin về những tiêu chuẩn chẩn đoán viêm khớp dạng thấp được áp dụng phổ biến. Đây là cơ sở để bác sĩ có thể đưa ra chẩn đoán chính xác và xây dựng phương án điều trị tối ưu. Nếu phát hiện các triệu chứng liên quan đến RA như đau khớp, cứng khớp vào buổi sáng hoặc những biểu hiện bất thường khác, người bệnh nên thăm khám sớm để được chẩn đoán và can thiệp kịp thời.
Cập nhật lần cuối: 16:48 24/09/2026
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
Arnett, F. C., Edworthy, S. M., Bloch, D. A., McShane, D. J., Fries, J. F., Cooper, N. S., Healey, L. A., Kaplan, S. R., Liang, M. H., Luthra, H. S., Medsger, T. A., Mitchell, D. M., Neustadt, D. H., Pinals, R. S., Schaller, J. G., Sharp, J. T., Wilder, R. L., & Hunder, G. G. (1988). The American Rheumatism Association 1987 revised criteria for the classification of rheumatoid arthritis. Arthritis & Rheumatism, 31(3), 315–324.
Aletaha, D., Neogi, T., Silman, A. J., Funovits, J., Felson, D. T., Bingham, C. O., Birnbaum, N. S., Burmester, G. R., Bykerk, V. P., Cohen, M. D., Combe, B., Costenbader, K. H., Dougados, M., Emery, P., Ferraccioli, G., Hazes, J. M., Hobbs, K., Huizinga, T. W., Kavanaugh, A., & Kay, J. (2010). 2010 Rheumatoid arthritis classification criteria: an American College of Rheumatology/European League Against Rheumatism collaborative initiative. Annals of the Rheumatic Diseases, 69(9), 1580–1588. https://doi.org/10.1136/ard.2010.138461.