Các loại thuốc chữa thoái hóa đốt sống cổ có thể là những thuốc hỗ trợ giảm đau, giảm viêm, cải thiện tình trạng cứng cổ và các triệu chứng chèn ép thần kinh. Vậy khi nào người bệnh cần dùng thuốc? Có thuốc trị thoái hóa đốt sống cổ không?

Không, thuốc không thể chữa khỏi hoàn toàn thoái hóa đốt sống cổ, nhưng một số thuốc hỗ trợ có thể giúp kiểm soát các triệu chứng như đau cổ, cứng cổ, đau lan vai gáy hoặc co thắt cơ, từ đó cải thiện khả năng vận động và sinh hoạt của người bệnh.
Thoái hóa đốt sống cổ là tình trạng thoái hóa mạn tính thường liên quan đến quá trình lão hóa, khiến đĩa đệm, sụn khớp và các cấu trúc quanh cột sống cổ dần bị tổn thương. Theo thời gian, cơ thể có thể hình thành gai xương và làm thay đổi cấu trúc cột sống. Thuốc chủ yếu làm giảm và kiểm soát triệu chứng, không thể phục hồi sụn khớp, đĩa đệm hoặc loại bỏ những thay đổi cấu trúc đã hình thành.
Tuy nhiên, ở giai đoạn sớm, phát hiện và điều trị đúng cách, phối hợp dùng thuốc, vật lý trị liệu và thay đổi lối sống, người bệnh có thể kiểm soát tốt triệu chứng, ngăn ngừa biến chứng và duy trì chất lượng sống ổn định hơn.

Người bị thoái hóa đốt sống cổ thường có chỉ định dùng thuốc khi có các cơn đau nhức vùng cổ, vai gáy, gây khó khăn trong sinh hoạt và hoạt động hàng ngày, hoặc khi các biện pháp tự chăm sóc tại nhà (như nghỉ ngơi, chườm ấm) không còn mang lại hiệu quả. Thuốc có tác dụng giảm đau, chống viêm, làm dãn cơ bị cứng và phục hồi dây thần kinh bị chèn ép, giúp người bệnh xoay cổ dễ hơn và nâng cao chất lượng cuộc sống.
Tuy nhiên, việc dùng thuốc giảm đau hay chống viêm kéo dài có thể gây hại cho dạ dày, gan, thận hoặc gây tác dụng phụ. Do đó, để đảm bảo an toàn và hiệu quả tối đa, người bệnh chỉ nên dùng thuốc sau khi đã thăm khám, chẩn đoán chính xác và có sự chỉ định của bác sĩ chuyên khoa.
Nhóm thuốc giảm đau thông thường, chủ yếu là Paracetamol/acetaminophen là loại thuốc được sử dụng phổ biến cho các trường hợp thoái hóa đốt sống cổ có triệu chứng đau từ nhẹ đến trung bình. Thuốc mang lại hiệu quả giảm đau nhanh chóng, thường kéo dài từ 2 đến 4 giờ sau khi sử dụng. (1) (2)
So với các nhóm thuốc giảm đau khác như NSAID hay opioid, Paracetamol có hồ sơ an toàn tốt hơn và có thể ít gây ra tác dụng phụ đáng kể. Tuy nhiên, Paracetamol không có tác dụng kháng viêm. Do đó, đối với các trường hợp thoái hóa đốt sống cổ đi kèm viêm nhiễm, thuốc có thể không mang lại hiệu quả giảm đau tối ưu hoặc cần kết hợp với các loại thuốc khác.
Thuốc kháng viêm không steroid (NSAID) là nhóm thuốc dùng để giảm đau, chống viêm và có thể hạ sốt, không chứa cấu trúc steroid. Chúng hoạt động bằng cách ức chế các chất trung gian gây viêm trong cơ thể, từ đó làm giảm các triệu chứng khó chịu.
NSAIDs thường được chỉ định trong các trường hợp thoái hóa đốt sống cổ có triệu chứng đau từ nhẹ đến trung bình, hiệu quả khi cơn đau có kèm theo tình trạng viêm tại vùng bị tổn thương. Các loại thuốc phổ biến gồm ibuprofen, naproxen, meloxicam và diclofenac…

Mục đích sử dụng thuốc giãn cơ cho người bệnh thoái hóa đốt sống cổ là làm dịu tình trạng căng cơ và giảm sự co thắt, từ đó giúp khắc phục tình trạng cơ và dây chằng bị co cứng. Cyclobenzaprine là một trong các loại thuốc giãn cơ được sử dụng phổ biến. Ngoài ra, Tolperisone, Eperison cũng có tác dụng giãn cơ và cải thiện tuần hoàn máu.
Tuy nhiên, nhóm thuốc này chỉ nên được sử dụng trong thời gian ngắn nhằm hạn chế các tác dụng phụ như chậm nhịp tim, hạ huyết áp, mệt mỏi, buồn ngủ, bí tiểu, dị ứng.
Thuốc điều trị đau thần kinh như Gabapentin và Pregabalin thường được dùng kết hợp trong các phác đồ điều trị thoái hoá đốt sống cổ có triệu chứng đau thần kinh. Khi cơn đau kéo dài, đau lan theo đường đi của dây thần kinh hoặc đau dai dẳng, không thuyên giảm khi dùng thuốc giảm đau thông thường.
Ở một số người bệnh, thoái hóa đốt sống cổ chèn dây thần kinh có thể gây đau lan xuống vai, cánh tay, kèm tê bì hoặc yếu cơ. Bạn có thể xem thêm bài viết này để tìm hiểu cơ chế chèn ép thần kinh, dấu hiệu nhận biết và các phương pháp điều trị phù hợp.
Thuốc Corticosteroid như Prednisone, Methylprednisolone có thể được bác sĩ kê đơn trong thời gian ngắn (5 – 7 ngày) nhằm giảm nhanh các cơn đau cấp tính hoặc chèn ép dây thần kinh nặng do thoái hóa đốt sống cổ. Nhóm thuốc này có khả năng chống viêm, giúp làm dịu cơn đau nhanh chóng và chỉ nên sử dụng khi các loại thuốc giảm đau thông thường không còn hiệu quả.
Thuốc nhóm opioid như Tramadol hoặc Codein thường được sử dụng cho người bệnh thoái hóa đốt sống cổ nặng, đau nghiêm trọng, không đáp ứng với thuốc giảm đau thông thường (Paracetamol) hoặc thuốc kháng viêm (NSAIDs). Tuy nhiên, nhóm thuốc này chỉ nên sử dụng trong thời gian ngắn và bắt buộc có chỉ định của bác sĩ.
Ngoài các loại thuốc có tác dụng giảm đau trực tiếp, các loại Vitamin ( B1, B6, B12), glucosamine và viên uống hỗ trợ khớp cũng có thể chỉ định cho người bệnh thoái hóa đốt sống cổ nhằm hỗ trợ phục hồi sụn khớp, nuôi dưỡng đĩa đệm, giảm tốc độ thoái hóa, tăng tính linh hoạt cho cột sống cổ, hỗ trợ điều trik tình trạng chèn ép rễ thần kinh.
Mặc dù các loại thuốc điêu trị thoái hóa đốt sống cổ có khả năng giảm đau, giảm viêm và cải thiện hiệu quả chức năng vận động của người bệnh. Tuy nhiên, một số loại thuốc có thể gây ra các tác dụng phụ ngoài ý muốn, ảnh hưởng đến sức khỏe và quá trình điều trị bệnh. Do đó, khi dùng thuốc, người bệnh cần lưu ý:
Chỉ sử dụng thuốc khi có chỉ định của bác sĩ.
Uống thuốc đúng liều, đúng thời gian và không tự ý tăng liều hoặc lạm dụng thuốc quá mức.
Tránh uống thuốc giảm đau liên tục trong thời gian dài.
Không tự ý kết hợp thuốc chữa thoái hóa đốt sống cổ với bất kỳ loại thuốc, thực phẩm chức năng nào khi chưa có chỉ định cụ thể của bác sĩ.
Báo với bác sĩ nếu bạn có tiền sử đau dạ dày, viêm loét tiêu hóa, bệnh lý về tim mạch, suy gan hoặc suy thận trước khi kê đơn.
Theo dõi phản ứng của cơ thể, thông báo hoặc thăm khám ngay khi xuất hiện các triệu chứng đau thượng vị dữ dội, đi ngoài phân đen, buồn nôn, phát ban hoặc sưng phù mặt và phù chân.
Duy trì chế độ ăn uống khoa học, vận động thể chất và tránh dùng bia rượu trong quá trình điều trị bệnh.

Không. Như đã đề cập, thoái hóa đốt sống cổ là một quá trình lão hóa tự nhiên của cơ thể theo thời gian, không thể chữa khỏi hoàn toàn hoặc đảo ngược cấu trúc xương khớp trở lại trạng thái ban đầu. Việc lạm dụng hoặc chỉ phụ thuộc vào thuốc chữa thoái hóa đốt sống cổ không thể điều trị dứt điểm bệnh mà còn có thể gây ra nhiều tác dụng phụ nguy hại.
Tuy nhiên, người bệnh hoàn toàn có thể kiểm soát triệu chứng đau, ngăn chặn tình trạng bệnh tiến triển và phục hồi vận động bằng cách kết hợp đa phương pháp, bao gồm thuốc, vật lý trị liệu, thay đổi lối sống hoặc phẫu thuật khi có chèn ép thần kinh nặng, teo cơ. Quan trọng hơn, mọi phương pháp điều trị cần có sự chỉ định, theo dõi của bác sĩ chuyên khoa để đảm bảo an toàn, hiệu quả tối ưu.
Bên cạnh điều trị bằng thuốc, việc duy trì tư thế ngủ phù hợp có thể giúp giảm áp lực lên vùng cổ và hạn chế cảm giác đau khi nghỉ ngơi. Bạn có thể xem thêm bài viết tư thế nằm cho người thoái hóa đốt sống cổ để biết cách lựa chọn tư thế và sử dụng gối nâng đỡ vùng cổ.
Thoái hóa đốt sống cổ nếu được phát hiện và điều trị sớm sẽ giúp kiểm soát cơn đau nhanh, phục hồi vận động vùng cổ vai gáy, ngăn ngừa gai xương phát triển và phòng tránh các biến chứng nặng như chèn ép rễ thần kinh, teo cơ.
Người bệnh nên thăm khám khi:
Cảm thấy đau cổ lan xuống vai, cánh tay, bàn tay hoặc đau kéo dài trên 2 tuần.
Tê bì, châm chích hoặc mất cảm giác ở ngón tay.
Cảm giác như có luồng điện giật dọc sống cổ khi gập đầu.
Yếu tay chân
Rối loại khi đi tiêu tiểu
Chóng mặt, ù tai, đau đầu kéo dài ảnh hưởng sinh hoạt.
Ù tai kéo dài có thể liên quan đến nhiều nguyên nhân khác nhau, không nhất thiết do thoái hóa cột sống cổ. Bạn có thể xem thêm bài viết thoái hóa đốt sống cổ gây ù tai để hiểu rõ hơn về mối liên hệ giữa hai tình trạng và các dấu hiệu cần thăm khám.
Khi xuất hiện dấu hiệu chèn ép tủy nặng như yếu liệt chi, mất kiểm soát tiểu tiện, lú lẫn, mất thị lực đột ngột hoặc đau dữ dội sau tai nạn, cần cấp cứu kịp thời.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Mặc dù thuốc chữa thoái hóa đốt sống cổ không thể điều trị dứt điểm bệnh nhưng việc dùng thuốc đúng cách, đúng chỉ định có thể giúp kiểm soát tốt cơn đau, giảm viêm và duy trì khả năng vận động. Người bệnh cần thăm khám sớm để được bác sĩ chẩn đoán chính xác mức độ tổn thương, xác định đúng nguyên nhân gây đau và xây dựng phác đồ điều trị phù hợp.