Bé trai 11 tuổi mắc khớp giả bẩm sinh hiếm gặp, nhiễm trùng nặng đe dọa mất chân. Nhờ kỹ thuật vi phẫu ghép xương có mạch nuôi, các bác sĩ Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh đã giữ lại được chân cho bé.

TS.BS Chế Đình Nghĩa, Phó khoa Chấn thương Chỉnh hình, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội cho biết, bệnh nhi được bố đưa tới viện trong tình trạng có ổ nhiễm trùng vết mổ, viêm xương, chân phải sưng tấy, có mủ. Kết quả chụp X-Quang cho thấy cẳng chân bên phải của Doanh bị biến dạng ⅓, có khớp giả đầu dưới xương chày và xương mác.
“Nếu không điều trị sớm, bé có nguy cơ phải cắt chi do tình trạng nhiễm trùng gây viêm xương, phá hủy hoặc tiêu xương, xơ hóa các tổ chức phần mềm xung quanh nặng, biến dạng trục chi”, bác sĩ Nghĩa đánh giá.
Trước tình trạng nguy cấp, bệnh nhi được hội chẩn đa chuyên khoa gồm Chấn thương Chỉnh hình, nhi khoa, Gây mê hồi sức, Dinh dưỡng, Phục hồi chức năng để xây dựng phác đồ điều trị toàn diện, chia thành hai giai đoạn với 2 cuộc mổ.
Giai đoạn 1, loại bỏ ổ viêm, đặt xi măng kháng sinh điều trị nhiễm trùng. ThS.BS Nguyễn Trọng Quỳnh, khoa Chấn thương Chỉnh hình thực hiện cùng êkíp phẫu thuật loại bỏ hoàn toàn đoạn xương bị viêm, nạo sạch mô hoại tử, mủ và các mô xơ bị tổn thương. Để kiểm soát nhiễm trùng triệt để, các bác sĩ đặt xi măng kháng sinh vào vị trí khuyết xương. Xi măng kháng sinh đóng vai trò như một “hàng rào bảo vệ tại chỗ”, giải phóng kháng sinh với nồng độ cao, liên tục trong nhiều ngày, giúp tiêu diệt vi khuẩn tại ổ nhiễm, giảm nguy cơ tái nhiễm.
Đồng thời, phương pháp này hạn chế đáng kể tác dụng phụ so với việc sử dụng kháng sinh toàn thân liều cao kéo dài. Sau mổ, bệnh nhi được chăm sóc dinh dưỡng tích cực để nâng cao thể trạng, kết hợp theo dõi nhiễm trùng qua xét nghiệm và hình ảnh học. Bốn tháng sau, khi tình trạng nhiễm trùng đã kiểm soát hoàn toàn, thể trạng ổn định, bé bước vào giai đoạn điều trị tiếp theo.

Ở giai đoạn 2, bác sĩ Nghĩa cùng êkíp thực hiện vi phẫu ghép xương mác có mạch nuôi từ chân lành sang chân bị tổn thương, nhằm tái tạo đoạn xương đã bị cắt bỏ. Đây là kỹ thuật đòi hỏi độ chính xác và tinh vi cao, bởi không chỉ ghép xương mà còn phải nối thành công hệ thống mạch máu nuôi dưỡng cho đoạn xương ghép. Ghép xương có mạch máu nuôi là kỹ thuật khó, chỉ được thực hiện tại một số trung tâm lớn có đủ trang thiết bị và bác sĩ chuyên sâu về vi phẫu.
Khác với phương pháp ghép xương truyền thống chỉ lấy một đoạn xương ghép “chết” từ cơ thể, kỹ thuật này sử dụng đoạn xương còn nguyên hệ thống mạch máu nuôi, sau đó nối chính xác từng mạch máu nhỏ dưới kính hiển vi để đảm bảo đoạn xương ghép được cấp máu liên tục. Nhờ đó, đoạn xương ghép sống, có khả năng phát triển và liền tốt hơn, đặc biệt phù hợp với trẻ em – độ tuổi còn đang phát triển mạnh về xương.
Trước mổ, bác sĩ tiến hành đo đạc, định vị và lên kế hoạch chi tiết. Một trong những yếu tố quyết định thành công của ca ghép xương là việc ứng dụng công nghệ chụp mạch máu bằng máy CT Force VB30 đa lát cắt hiện đại, liều tia siêu thấp, an toàn đối với trẻ nhỏ. Thiết bị cho phép dựng hình mạch máu 3D độ phân giải cao, giúp bác sĩ xác định rõ vị trí, hướng đi của mạch máu, tránh các vùng bị tắc, từ đó đưa ra chiến lược nối mạch tối ưu, giảm thiểu nguy cơ tắc mạch sau mổ.
Bác sĩ Nghĩa chia sẻ: “Thách thức lớn nhất là thể trạng của bé rất gầy yếu, đã từng phẫu thuật thất bại trước đó và có nền mô sẹo, nhiễm trùng, tắc mạch. Việc đảm bảo dòng máu nuôi sống đoạn xương ghép là tối quan trọng”.
Ca phẫu thuật kéo dài 12 tiếng đã diễn ra thành công. Sau mổ, vết mổ khô, sạch, không có dấu hiệu nhiễm trùng. Bé ăn uống tốt, tinh thần ổn định. Đoạn xương mác ghép có mạch máu nuôi sẽ phát triển dần, từng bước thay thế phần xương chày bị mất.
Hiện bé đang được tập phục hồi chức năng theo chương trình cá nhân hóa, tăng dần khả năng chịu lực cho chân. Phục hồi chức năng sau mổ giữ vai trò rất quan trọng, giúp xương ghép thích nghi với tải trọng, tránh nguy cơ biến dạng lại hoặc lệch trục chi. Các bài tập được thiết kế phù hợp với từng giai đoạn hồi phục, dưới sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ, kỹ thuật viên và gia đình. Bé cũng cần được theo dõi định kỳ lâu dài để đánh giá mức độ liền xương, sự phát triển của đoạn xương ghép và đảm bảo hai chân phát triển cân đối theo thời gian.
Dự kiến trong khoảng 6-9 tháng tới, bé Doanh có thể đi lại và vận động gần như bình thường, trở lại nhịp sống của một đứa trẻ khỏe mạnh.
Bác sĩ Nghĩa cho biết, khớp giả bẩm sinh (Congenital Pseudarthrosis of the Tibia – CPT) là một dị tật hiếm gặp (tỉ lệ mắc khoảng 1/250.000 trẻ), thường xảy ra ở xương chày (xương ống chân). Trẻ sinh ra đã có bất thường cấu trúc xương, khiến đoạn xương yếu, dễ gãy và không liền lại bình thường. Tình trạng này tạo ra một “khớp giả” – nơi hai đầu xương không kết nối chắc chắn như khớp thật
Bệnh khớp giả bẩm sinh thường được phát hiện trong 6 tháng đầu đời hoặc khi trẻ bắt đầu biết đi. Bệnh phổ biến nhất là ở xương chày (chiếm hơn 80% trường hợp). Một số dấu hiệu sớm mà cha mẹ có thể nhận thấy gồm: chân cong hoặc lệch trục bất thường, một chân ngắn hơn chân còn lại, trẻ đi khập khiễng, dễ vấp ngã. Vùng cẳng chân yếu, đôi khi sưng nhẹ, có thể nhìn thấy biến dạng. Một số trường hợp, trẻ bị gãy xương tự nhiên hoặc sau va chạm nhẹ nhưng sau đó xương không liền, gây nghi ngờ tình trạng khớp giả.
Bác sĩ Nghĩa khuyến cáo, khi thấy trẻ có biểu hiện chân cong, đi khập khiễng, yếu chân hoặc gãy xương không rõ nguyên nhân, nên đưa trẻ đi khám chuyên khoa Chấn thương Chỉnh hình càng sớm càng tốt, đặc biệt là những cơ sở y tế có sự phối hợp đa chuyên khoa. Phát hiện sớm giúp kiểm soát tổn thương, lên kế hoạch điều trị phù hợp, hạn chế biến chứng và tránh nguy cơ mất chi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH