Bà Láng, 65 tuổi, đặt máy tạo nhịp tim 20 năm, nay cần phẫu thuật u đốt sống ngực và thoát vị đĩa đệm, bác sĩ phải tắt máy, chạy đua với thời gian để tránh đe dọa tính mạng.
Trước đó, mặc dù bị căng cứng cột sống, đau nhiều, tê chân và thường té ngã đột ngột trong nhiều năm nhưng bà Láng đi khám nhiều nơi không được chụp MRI do có máy tạo nhịp tim trong người. Việc chẩn đoán bệnh gặp khó khăn khiến tình trạng bệnh của bà ngày càng nặng hơn.
BS.CKI Vũ Ngọc Bảo Quỳnh, khoa Phẫu thuật Cột sống, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết từ trường mạnh từ máy chụp MRI có thể làm hỏng máy tạo nhịp tim, sinh nhiệt gây bỏng hoặc khiến thiết bị hoạt động sai lệch. Trong khi đó, nếu ngừng máy tạo nhịp trong quá trình chụp, nguy cơ làm tim hoạt động quá chậm hoặc không đều, gây tụt huyết áp, ngất xỉu, suy tim, thậm chí đe dọa tính mạng. “Không chỉ gây khó khăn cho chụp MRI chẩn đoán bệnh, việc phẫu thuật cột sống khi người bệnh đang có máy tạo nhịp tim trong người đặt ra rất nhiều nguy cơ biến chứng nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng người bệnh ngay trong lúc mổ”, bác sĩ Quỳnh nói.
Sau hội chẩn, các bác sĩ chấn thương chỉnh hình, tim mạch và chẩn đoán hình ảnh lên kế hoạch chi tiết, tạm thời tắt thiết bị tạo nhịp tim cho bà Láng trong hai lần. Lần đầu phục vụ cho chụp MRI cận lâm sàng và lần sau cho ca phẫu thuật phức tạp.
Đầu tiên, khi chụp MRI, các bác sĩ tắt thiết bị tạo nhịp tim cho người bệnh dưới sự giám sát của bác sĩ tim mạch. Thời gian tắt máy tạo nhịp tim được kiểm soát chặt chẽ, không kéo dài quá 30 phút. Kết quả chụp MRI cho thấy bà Láng có khối u bên trong đốt sống ngực và thoát vị đĩa đệm hai đốt sống lưng, chèn ép dây thần kinh, gây ra triệu chứng yếu liệt và giảm sức cơ chỉ còn 2/5. Nếu tiếp tục kéo dài khoảng 3-6 tháng, người bệnh có nguy cơ rối loạn tiêu tiểu. Lúc này, dù điều trị thành công cũng không thể phục hồi được tổn thương ở dây thần kinh. Do đó, người bệnh cần được mổ càng sớm càng tốt.

Tiếp theo đó, khi ca mổ diễn ra, các bác sĩ đánh giá chi tiết từng rủi ro khi từ dao mổ điện, máy đốt sóng cao tần hoặc các thiết bị phòng mổ khác đều có thể vô hiệu hóa tạm thời hoặc làm hỏng máy tạo nhịp. Ca phẫu thuật cần tắt máy tạo nhịp, tuy nhiên nếu với mỗi vị trí tổn thương của bà Láng (u đốt sống ngực và thoát vị đĩa đệm đốt sống lưng) cần một ca mổ riêng khoảng 3-4 tiếng thì việc tắt máy hai lần trong thời gian dài có nguy cơ cao ảnh hưởng chức năng tim mạch.
“Sau hội chẩn lần 2, chúng tôi quyết định phẫu thuật cả hai vị trí cùng lúc, đồng thời chạy đua với thời gian, cần đảm bảo hoàn thành ca mổ trong khoảng 5 tiếng để hạn chế tối đa việc tắt máy tạo nhịp ảnh hưởng đến người bệnh”, bác sĩ Quỳnh nói.
Đối với khối u trong đốt sống ngực, bác sĩ cắt bỏ phần cung sau đốt sống, rạch màng cứng để bộc lộ khối u. Khối u được bóc tách cẩn thận từng chút một khỏi tủy sống và các rễ thần kinh trước khi lấy ra hoàn toàn khỏi cơ thể. Ngay sau đó, ê-kíp chuyển sang xử lý vấn đề ở cột sống thắt lưng. Bác sĩ mở một đường nhỏ trên da, tiếp cận các đốt sống bị tổn thương, loại bỏ những thành phần hư hại. Sau đó, bắt 6 vít cố định các đốt sống này và thay 2 đĩa đệm nhân tạo. Cột sống được cố định vững vàng, các điểm chèn ép dây thần kinh ở ngực và lưng đều được giải phóng. Kết thúc ca mổ, toàn bộ khối u được thực hiện giải phẫu bệnh và xác định là lành tính.

Ngày đầu sau mổ, bà Láng được hướng dẫn tập vật lý trị liệu tại giường, dù sức cơ chưa hồi phục hoàn toàn nhưng người bệnh cảm thấy chân nhẹ hơn hẳn, gần như không còn tê đau. Bà có thể tự đi lại vào ngày thứ 3 sau mổ và xuất viện sau đó 4 ngày. Tái khám sau 1 tháng, bà Láng hồi phục rất tốt, đi lại gần như bình thường.
Bác sĩ Quỳnh khuyến cáo, đôi khi một triệu chứng bất thường có thể là dấu hiệu cảnh báo người bệnh đang mắc cùng lúc nhiều vấn đề về sức khỏe. Việc bỏ sót bất kỳ nguyên nhân nào cũng làm giảm đáng kể hiệu quả điều trị, khiến người bệnh không thể phục hồi hoàn toàn. Nếu phát hiện các dấu hiệu bất thường, đặc biệt là khi còn có những bệnh lý nền khác, người bệnh nên đi khám tại các cơ sở y tế có đủ chuyên khoa, thiết bị, kỹ thuật hiện đại để được phối hợp chẩn đoán và điều trị.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH