Sau hai ngày sưng chân không thể đi lại, chị Hòa, 47 tuổi, nhập viện phát hiện huyết khối gây tắc hoàn toàn tĩnh mạch chi dưới do hội chứng May-Thurner.
Trước đó chị Hòa vẫn đi lại bình thường. Chỉ trong hai ngày, chân trái đột ngột yếu, sưng to từ đùi xuống bàn chân, căng tức đến mức không thể bước đi. Người nhà đưa chị đến cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Hưng – Q.7 cũ).
BS.CKII Lê Quang Thắng, khoa Cấp cứu, cho biết toàn bộ chân trái chị Hòa sưng phù, căng cứng, khó vận động. Chị Hòa có tiền sử lạc nội mạc tử cung gây rong kinh, vừa đặt vòng tránh thai tại bệnh viện gần nhà khoảng hai tuần trước và hiện vẫn còn ra huyết âm đạo.
Diễn tiến sưng đau nhanh, mức độ phù lan rộng kèm bệnh sử khiến bác sĩ nghĩ nhiều đến tình trạng tắc nghẽn hệ thống tĩnh mạch chi dưới, thay vì chỉ là một vấn đề cơ xương khớp thông thường.
Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) hơn 100.000 lát cắt cho thấy huyết khối cấp gây tắc hoàn toàn tĩnh mạch chậu chung, tĩnh mạch chậu ngoài, đoạn trên tĩnh mạch đùi và nhiều đoạn của hệ tĩnh mạch sâu, nông, tiếp tục lan xuống tĩnh mạch khoeo, thân chày – mác, các tĩnh mạch mác, đoạn gần hai tĩnh mạch chày sau và các tĩnh mạch trong cơ bụng chân. Huyết khối không khu trú tại một vị trí mà đã lan rộng từ vùng chậu xuống gần như toàn bộ hệ tĩnh mạch của chi dưới trái. Mô mềm toàn bộ chân cũng phù nề.

Đáng chú ý, phim CT còn phát hiện tĩnh mạch chậu chung trái bị chèn ép nghiêm trọng giữa cột sống và động mạch chậu chung phải, lòng mạch tại vị trí hẹp chỉ còn khoảng 1,6 mm. Bác sĩ chẩn đoán người bệnh bị huyết khối tĩnh mạch sâu diện rộng trên nền hội chứng May-thurner.
May-Thurner là hội chứng rối loạn giải phẫu ít gặp, tỷ lệ mắc từ 2-5%, gây tình trạng tĩnh mạch chậu chung trái bị chèn ép nghiêm trọng giữa động mạch chậu chung phải và cột sống. Sự chèn ép này làm cản trở dòng máu từ chân trái về tim, gây tổn thương nội mạc và tạo điều kiện hình thành huyết khối. Nguyên nhân mắc May-Thurner chủ yếu do bẩm sinh, hoặc các yếu tố thúc đẩy như mang thai, phẫu thuật vùng chậu, nằm bất động lâu, các bệnh lý phụ khoa như lạc nội mạc tử cung làm thay đổi khả năng đông máu… Hội chứng này hay gặp ở phụ nữ từ 20-50 tuổi, phụ nữ sau sinh, người ít vận động, hoặc người có cơ địa dễ đông máu.
Trước tình trạng huyết khối lan rộng, chị Hòa được chuyển đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Sơn Hòa – Q.Tân Bình cũ) để điều trị và theo dõi chuyên sâu.
Các bác sĩ Cấp cứu phối hợp cùng êkíp Ngoại Lồng ngực – Mạch máu và Sản Phụ khoa hội chẩn khẩn, đánh giá đồng thời mức độ tắc nghẽn của hệ tĩnh mạch, nguy cơ huyết khối tiến triển. Bài toán điều trị trở nên khó khăn khi người bệnh vừa cần kiểm soát huyết khối, vừa có nguy cơ chảy máu do tình trạng rong huyết kéo dài liên quan đến lạc nội mạc tử cung. Đây là yếu tố khiến bác sĩ phải cân nhắc kỹ chiến lược điều trị, bởi thuốc chống đông cần thiết để ngăn huyết khối lan rộng nhưng có thể làm tình trạng chảy máu nặng hơn.
Sau khi đánh giá toàn diện, êkíp xây dựng kế hoạch điều trị theo trình tự. Trước tiên, người bệnh được phẫu thuật cắt tử cung để giải quyết nguyên nhân gây rong huyết kéo dài. Hậu phẫu đánh giá đủ điều kiện sức khỏe, người bệnh tiếp tục được phẫu thuật xử lý huyết khối chi dưới, giải phóng tình trạng tắc nghẽn tĩnh mạch.
TS.BS Nguyễn Anh Dũng, Trưởng khoa Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, Trung tâm Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết nếu không được can thiệp sớm, huyết khối có thể bong ra, di chuyển theo dòng máu lên tim và kẹt lại ở động mạch phổi, gây thuyên tắc động mạch phổi cấp, người bệnh có thể tử vong. Về lâu dài, tắc nghẽn tĩnh mạch có thể dẫn đến hội chứng hậu huyết khối, với biểu hiện phù, đau nhức dai dẳng, thay đổi sắc tố da, loét chân khó lành, ảnh hưởng khả năng vận động và suy giảm chất lượng sống.
Dưới sự hỗ trợ của hệ thống chụp mạch can thiệp số hóa xóa nền (DSA), bác sĩ Dũng đã đưa ống thông tiếp cận chính xác vị trí huyết khối để truyền thuốc tiêu sợi huyết kết hợp hút bỏ toàn bộ máu đông gây bít tắc, nhanh chóng tái thông lòng mạch. Ngay sau đó, êkíp tiến hành đặt stent vào vùng tổn thương, stent bung ra áp sát hoàn toàn vào thành mạch để tạo thành lớp bảo vệ vững chắc, giúp dòng máu lưu thông thuận lợi xuống nuôi chân và ngăn nguy cơ tái tắc nghẽn.

Ca can thiệp diễn ra an toàn, hình ảnh chụp mạch cho thấy stent mở rộng tối ưu, dòng máu lưu thông tốt. Nhờ can thiệp ít xâm lấn, người bệnh hồi phục nhanh, ăn uống, sinh hoạt bình thường, được xuất viện sau 1 ngày.
Theo bác sĩ Dũng, huyết khối tĩnh mạch sâu có thể biểu hiện bằng sưng, đau, căng tức, nóng hoặc thay đổi màu sắc một bên chân. Mức độ triệu chứng phụ thuộc vị trí và phạm vi mạch máu bị tắc.
Bác sĩ khuyến cáo, phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là những người có tiền sử bệnh lý phụ khoa như lạc nội mạc tử cung, nếu xuất hiện các triệu chứng đột ngột như đau nhức, sưng phù một bên chân, căng cứng hoặc khó vận động, không nên chủ quan hay tự ý mua thuốc giảm đau, xoa bóp tại nhà. Người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế để được đánh giá và can thiệp kịp thời. Nếu sưng đau chân kèm khó thở đột ngột, đau ngực, tim đập nhanh, choáng hoặc ngất, cần cấp cứu ngay phòng nguy cơ thuyên tắc động mạch phổi.
* Tên của người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH