Ông Huy, 68 tuổi, thoát vị bẹn phải tái phát, nay phát hiện thêm thoát vị bẹn trái, bác sĩ phẫu thuật nội soi, đặt 2 tấm lưới nhân tạo gia cố cả 2 bên trong cùng một cuộc mổ.
Ông Huy có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường, từng phẫu thuật ung thư tuyến tiền liệt hai năm trước, cắt túi mật và mổ thoát vị bẹn phải cách đây một năm. Sau phẫu thuật thoát vị, vùng bẹn phải xuất hiện biến chứng áp xe, phải dẫn lưu hai lần. Gần đây, ông nhận thấy một khối phồng lớn ở bẹn phải, xuất hiện rõ khi đứng hoặc gắng sức. Ông đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM khám.
BS.CKII Nguyễn Quốc Thái, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, cho biết, kết quả siêu âm khi người bệnh thực hiện nghiệm pháp Valsalva ở tư thế đứng ghi nhận khối thoát vị qua vùng bẹn phải, cổ túi thoát vị khoảng 10 mm, thành phần thoát vị gồm mỡ và quai ruột. Bác sĩ chẩn đoán ông Huy bị thoát vị bẹn phải tái phát, đồng thời có thoát vị bẹn trái gián tiếp mắc phải.

Theo bác sĩ Thái, tái phát thoát vị bẹn sau phẫu thuật có thể liên quan đến nhiều yếu tố. Thành bụng tại vùng bẹn vốn đã yếu, cộng thêm thay đổi cấu trúc mô sau phẫu thuật có thể tạo điều kiện cho thoát vị xuất hiện trở lại.
Lưới nhân tạo theo thời gian cũng có thể co rút hoặc thay đổi vị trí, nhưng tái phát còn phụ thuộc vào kích thước và vị trí khuyết thành bụng, mức độ bao phủ và cố định lưới, chất lượng mô, kỹ thuật phẫu thuật cũng như các yếu tố làm tăng áp lực ổ bụng
Trường hợp ông Huy, vùng bẹn phải từng phẫu thuật và tiếp tục xuất hiện áp xe sau mổ. Tình trạng viêm, nhiễm trùng và quá trình lành thương bất thường có thể làm chất lượng mô tại vùng phẫu thuật bị ảnh hưởng, tạo thêm thách thức cho lần can thiệp tiếp theo. Người bệnh đồng thời lớn tuổi, mắc đái tháo đường, đều là những yếu tố cần được lưu ý trong quá trình lành thương và theo dõi sau phẫu thuật.
Sau hội chẩn, bác sĩ quyết định phẫu thuật nội soi đặt lưới hai bên bằng kỹ thuật TAPP (đặt lưới trước phúc mạc qua đường vào ổ bụng), nhằm gia cố vùng yếu của thành bụng và xử trí đồng thời hai bên trong một lần mổ.
Khi đưa hệ thống nội soi vào ổ bụng, êkíp phát hiện mạc nối lớn dính vào thành bụng tại vùng hạ vị và hố chậu phải, tiến hành gỡ dính.
Bác sĩ lần lượt bóc tách khoang trước phúc mạc ở hai bên, giải phóng túi thoát vị và đưa phần tạng thoát vị trở lại ổ bụng. Vùng bẹn phải có nhiều mô xơ dính do những lần can thiệp trước, phúc mạc xơ dính và bị rách ở một số vị trí trong quá trình bóc tách, phẫu thuật viên phải xử lý cẩn trọng để hạn chế tổn thương các cấu trúc quan trọng như mạch máu, ống dẫn tinh và thừng tinh.
Sau khi tạo đủ khoang để lưới phủ rộng toàn bộ vùng yếu của thành bụng, ê-kíp đặt hai tấm lưới kích thước 10 x 15 cm, lần lượt che phủ vùng bẹn hai bên, kiểm tra cầm máu và đóng các đường vào nội soi.
Theo bác sĩ Thái, ưu điểm của phẫu thuật nội soi TAPP trong trường hợp này là có thể tiếp cận vùng bẹn từ phía sau, tạo khoang để đặt lưới rộng và xử trí đồng thời thoát vị hai bên. Mục tiêu là tránh tối đa vùng mô sẹo, xơ dính và gia cố lại toàn bộ vùng yếu có nguy cơ thoát vị.

Sau mổ, ông Huy phục hồi tốt và được xuất viện sau một ngày.
Thoát vị bẹn xảy ra khi một phần tạng trong ổ bụng, thường là mạc nối hoặc ruột, chui qua điểm yếu của thành bụng ở vùng bẹn. Khối phồng thường rõ hơn khi đứng, ho, rặn hoặc vận động và có thể giảm khi nằm.
Ở trẻ em, thoát vị bẹn thường liên quan đến ống phúc tinh mạc không đóng kín. Ở người trưởng thành, thành bụng yếu dần theo tuổi, kết hợp với các yếu tố làm tăng áp lực ổ bụng, hình thành thoát vị. Nam giới, tuổi cao, ho kéo dài, táo bón, hút thuốc lá, béo phì hoặc công việc thường xuyên phải mang vác nặng là những yếu tố có thể làm tăng nguy cơ.
Phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu cho thoát vị bẹn có triệu chứng, tuy nhiên bệnh vẫn có nguy cơ tái phát do nhiều nguyên nhân như chất lượng mô, kỹ thuật phẫu thuật, vị trí và độ bao phủ của lưới, tình trạng nhiễm trùng sau mổ hoặc các yếu tố làm tăng áp lực vùng bụng kéo dài. Người từng phẫu thuật thoát vị cần đặc biệt chú ý nếu xuất hiện trở lại khối phồng ở vùng bẹn, cảm giác đau tức hoặc nặng vùng bẹn khi đứng lâu, ho, rặn hay vận động. Khối phồng tái xuất hiện không nên tự theo dõi kéo dài, nhất là ở người từng phẫu thuật nhiều lần.
Đáng lưu ý, thoát vị có thể diễn tiến thành nghẹt hoặc mắc kẹt, khi tạng thoát vị không thể tự trở lại ổ bụng và bị chèn ép, ảnh hưởng đến nguồn máu nuôi. Người bệnh có thể đau dữ dội, khối phồng căng đau, không đẩy được vào ổ bụng, kèm buồn nôn, nôn hoặc chướng bụng. Đây là tình trạng cấp cứu vì phần ruột thiếu máu kéo dài có thể hoại tử, thủng và gây nhiễm trùng ổ bụng.
Bác sĩ khuyến cáo người từng phẫu thuật thoát vị, đặc biệt trường hợp đã tái phát hoặc từng nhiễm trùng, áp xe sau mổ, nên tái khám khi xuất hiện khối phồng bất thường vùng bẹn. Việc đánh giá sớm giúp xác định có tái phát hay không, vị trí và thành phần túi thoát vị, từ đó lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, hạn chế nguy cơ biến chứng và những lần phẫu thuật phức tạp về sau.
(*) Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH