(Hà Nội)_Bà Hoa, 54 tuổi, có 3 nốt phổi nghi ác tính, bác sĩ chỉ định theo dõi phân biệt ung thư nguyên phát hay di căn, sau 3 tháng được phẫu thuật triệt căn.
Bà Hoa không có triệu chứng bất thường, đi khám sức khỏe định kỳ tại Phòng khám Đa khoa Tâm Anh Cầu Giấy. Bà không hút thuốc lá song có người thân trực hệ mắc ung thư phổi nên thuộc nhóm nguy cơ mắc bệnh này, được tư vấn tầm soát bằng phương pháp chụp CT phổi liều thấp.
Kết quả chụp trên hệ thống CT Somatom VB30 hơn 100.000 lát cắt cho thấy hai thùy phổi của bà Hoa có nhiều nốt tổn thương, đáng chú ý là 3 nốt ở phổi phải đều có hình thái nghi ác tính cao, trong đó một nốt đặc, bờ tua gai, kích thước 7,8×6,8mm, xếp loại LUNG-RADS 4X. Hai nốt ở phổi trái dạng kính mờ, phân loại mức LUNG-RADS 3, nguy cơ ác tính thấp, cần theo dõi thêm.
TS.BS Vũ Hữu Khiêm, Trưởng khoa Ung bướu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội cho biết các bác sĩ tiến hành hội chẩn đa chuyên khoa, nhận định bệnh nhân có tổn thương đa ổ ở cả hai phổi, cần xác định đúng bản chất đây là các ổ tổn thương dạng nhiễm trùng như viêm phổi, lao, nấm hay ung thư.
“Trong trường hợp nghi ngờ ung thư thì cần phân biệt là nguyên phát hay di căn”, bác sĩ Khiêm cho biết.
Bác sĩ Khiêm giải thích, nếu các tổn thương ở phổi phải là những ổ ung thư phổi nguyên phát, độc lập, trong trường hợp bệnh còn khu trú và đáp ứng các điều kiện phẫu thuật, người bệnh có thể được cân nhắc phẫu thuật theo nguyên tắc ung thư học, hướng đến mục tiêu điều trị triệt căn.
Trường hợp còn lại, các nốt hai bên phổi là tổn thương di căn từ một khối u nguyên phát, bệnh được xem là đã ở giai đoạn tiến triển và chiến lược điều trị chủ yếu là điều trị toàn thân.
Bà Hoa sau đó có kết quả âm tính với lao và nấm, xét nghiệm SPOT-MAS Lung dương tính, cho thấy mẫu máu xuất hiện tín hiệu phân tử nghi ngờ liên quan đến ung thư phổi. Các bác sĩ quyết định tiếp tục theo dõi và đánh giá diễn tiến tổn thương, tư vấn bệnh nhân tuân thủ lịch tái khám định kỳ.

Ở lần chụp lại thứ hai sau 3 tháng, các nốt ở phổi phải ghi nhận tăng kích thước, kết quả chụp PET/CT toàn thân không ghi nhận tổn thương ở các cơ quan khác. Sau hội chẩn đa chuyên khoa, các bác sĩ chỉ định phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt một phần thùy và phân thùy phổi phải chứa tổn thương.
Trước mổ, dưới hướng dẫn của cắt lớp vi tính, ekip Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp định vị 3 nốt phổi bằng chất xanh methylen, hỗ trợ phẫu thuật viên nhận diện chính xác tổn thương.
Kết quả sinh thiết lạnh tức thời trong mổ và giải phẫu mô bệnh học, sinh học phân tử hậu phẫu cho thấy cả ba nốt phổi đều là ung thư biểu mô tuyến không chế nhầy, nguyên phát với cấu trúc và các kiểu gen khác nhau, giới hạn trong nhu mô phổi, không ghi nhận xâm nhập mạch máu hay thần kinh, các diện cắt âm tính, đánh giá ở giai đoạn rất sớm pt1a(m). Người bệnh được phẫu thuật triệt căn, không cần hóa hay xạ trị bổ trợ.
Tái khám sau 3 tháng, sức khỏe bà Hoa ổn định, kết quả chụp CT không ghi nhận tổn thương mới, bệnh nhân được chỉ định tiếp tục theo dõi các nốt nguy cơ thấp ở phổi trái.
Tiến sĩ Khiêm cho biết trong thực tế điều trị từng gặp nhiều bệnh nhân có đa nốt u ở phổi, chưa được đánh giá kỹ lưỡng đã kết luận là di căn dẫn tới việc đánh giá giai đoạn và đưa phác đồ điều trị chưa thích hợp.
“Chính vì vậy việc phân biệt giữa ung thư nguyên phát đa ổ và di căn mang ý nghĩa sống còn”, ông nhấn mạnh và nói thêm rằng chẩn đoán phân biệt cần phối hợp chặt chẽ đa chuyên khoa như Ung bướu, Giải phẫu bệnh, Hô hấp, Phẫu thuật lồng ngực, Chẩn đoán hình ảnh… kết hợp lâm sàng và hình ảnh học, đánh giá kỹ vị trí, hình thái, tiến triển kích thước của nốt phổi, cũng như tình trạng toàn thân để đưa ra quyết định xử trí tối ưu cho người bệnh, không bỏ lỡ cơ hội điều trị triệt căn.
Bác sĩ Khiêm khuyến cáo mọi người nên khám sức khỏe định kỳ. Những người có nguy cơ cao bao gồm người trên 50 tuổi đang hoặc từng hút thuốc lá, hút thuốc trong nhiều năm, có tiền sử người thân trực hệ (cha mẹ, con cái) mắc ung thư phổi nên tầm soát bệnh hàng năm bằng kỹ thuật chụp CT phổi liều thấp. Chụp CT liều thấp là phương pháp tầm soát ung thư phổi hiệu quả, giúp nhận diện bất thường ngay cả khi chưa có dấu hiệu.
Ở giai đoạn sớm, bệnh thường diễn biến âm thầm, hầu như không có triệu chứng. Khi xuất hiện dấu hiệu, ung thư phổi thường đã ở giai đoạn muộn hơn, điều trị khó khăn, nguy cơ biến chứng và hiệu quả điều trị giảm rõ rệt. Khám định kỳ có thể giúp phát hiện bệnh lý ngay từ giai đoạn sớm, khi khả năng can thiệp còn cao, nâng cao tỷ lệ sống và chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
Riêng với các bệnh nhân ung thư phổi khi phát hiện nhiều khối u ở không nên bi quan, cần đến đến cơ sở uy tín, đa chuyên khoa để được đánh giá, chẩn đoán chính xác bản chất bệnh là ung thư nguyên phát đa ổ hay di căn nhằm có huớng điều trị triệt để, bác sĩ Khiêm cho biết.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH