Bé Ngọc (4 tuổi) có lỗ thông liên thất khiến máu dồn lên phổi và làm giãn thất trái, được bác sĩ can thiệp bít lỗ thông qua da.
Bé Ngọc được phát hiện tình trạng thông liên thất ngay sau khi chào đời song chưa can thiệp. Gần đây, gia đình đưa bé Ngọc tới khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội.
ThS.BS Nguyễn Tuấn Long, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết siêu âm Doppler tim ghi nhận trẻ mắc thông liên thất quanh màng kèm phình vách màng. Đây là vị trí khuyết vách nằm gần van động mạch chủ và van ba lá. Lỗ thông có đường kính khoảng 8,3 mm ở phía thất trái và thu hẹp còn 4,6 mm ở phía thất phải do phình vách màng, tạo nên đường thông dạng phễu thay vì một lỗ tròn có kích thước đồng nhất ở hai phía.
Bác sĩ Long giải thích, tim có bốn buồng, gồm hai tâm nhĩ và hai tâm thất. Bình thường, vách ngăn giữa hai tâm thất kín, giúp máu lưu thông theo đúng hướng. Khi có lỗ thông liên thất, do áp lực trong thất trái cao hơn thất phải, một phần máu giàu oxy sẽ đi từ thất trái sang thất phải rồi lên phổi, thay vì được bơm vào hệ tuần hoàn nuôi cơ thể.
“Lượng máu đi qua lỗ thông càng nhiều, lượng máu lên phổi và trở về tim trái càng tăng, khiến tim phải làm việc nhiều hơn. Nếu tình trạng này kéo dài, thất trái có thể bị quá tải thể tích, dẫn đến giãn buồng tim. Về lâu dài, nếu không được điều trị có thể xuất hiện tăng áp động mạch phổi hoặc suy giảm chức năng tim”, bác sĩ Long nói.
Ở bé Ngọc, tỷ lệ lưu lượng máu qua phổi so với hệ tuần hoàn (Qp/Qs) là 1,9, cho thấy lượng máu qua phổi cao gần gấp đôi lượng máu đi vào tuần hoàn hệ thống. Siêu âm ghi nhận thất trái giãn với đường kính cuối tâm trương 43 mm, Z-score 2,69 vượt giới hạn bình thường.
Theo bác sĩ Long, ở giai đoạn nhũ nhi và những năm đầu đời, một số lỗ thông liên thất quanh màng có thể tự thu hẹp nhờ mô phình vách màng phát triển theo thời gian. Tuy nhiên, đến nay 4 tuổi lỗ thông của bé Ngọc vẫn còn tồn tại với luồng thông đáng kể và đã bắt đầu gây ảnh hưởng lên tim. Để ngăn ngừa các biến chứng tiếp tục tiến triển, sau khi đánh giá toàn diện, trẻ được chỉ định bít thông liên thất qua da.

Qua đường mạch máu ở đùi, êkíp đưa dụng cụ chuyên dụng qua hệ thống ống thông vào tim, tiếp cận vị trí lỗ thông và triển khai che kín đường thông bất thường. Dụng cụ mở ra ở hai phía của vách liên thất, kẹp cố định quanh lỗ thông và ngăn dòng máu chảy bất thường từ thất trái sang thất phải.
Kết quả siêu âm tim và điện tim ngay sau can thiệp cho thấy dụng cụ nằm đúng vị trí, cố định chắc trên vách liên thất, không ảnh hưởng đến van động mạch chủ và van ba lá. Lỗ thông được bít kín, không ghi nhận dòng máu bất thường tồn lưu đáng kể hay rối loạn dẫn truyền tim, chức năng co bóp cơ tim ổn định.
Bé Ngọc được theo dõi sát sau can thiệp, hồi phục thuận lợi, không xuất hiện biến chứng, xuất viện sau 2 ngày. Gia đình được hướng dẫn tiếp tục cho trẻ dùng thuốc theo đơn, tái khám định kỳ để theo dõi sự phát triển của trẻ cũng như hiệu quả lâu dài của dụng cụ đóng thông liên thất.
Một phân tích tổng hợp 260 nghiên cứu của nhiều tác giả, công bố năm 2019 trên Thư viện Quốc gia Y khoa Hoa Kỳ (Pubmed), dựa trên dữ liệu của hơn 130,7 triệu trẻ sinh sống trên toàn cầu. Kết quả cho thấy tỷ lệ bệnh tim bẩm sinh (CHD) được ghi nhận tăng dần, đạt 9,41/1.000 trẻ sinh sống trong giai đoạn 2010-2017. Đáng chú ý, sự gia tăng chủ yếu đến từ các dị tật tim bẩm sinh bao gồm thông liên thất, thông liên nhĩ và còn ống động mạch – ba nhóm này cùng đóng góp 93,4% mức tăng tổng thể.
Theo bác sĩ Long, thông liên thất là một trong những bệnh tim bẩm sinh thường gặp ở trẻ em. Không phải trường hợp nào cũng cần can thiệp. Những lỗ thông nhỏ, không gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của tim có thể được theo dõi định kỳ, bởi một số trường hợp có thể tự đóng hoặc đóng khi trẻ lớn lên.
Trường hợp lỗ thông lớn hoặc gây dòng máu bất thường nhiều từ thất trái sang thất phải có thể làm tăng lượng máu lên phổi, gây quá tải và giãn buồng tim, ảnh hưởng chức năng tim hoặc van tim. Khi đó, bác sĩ có thể cân nhắc đóng lỗ thông dựa trên vị trí, hình thái, mức độ ảnh hưởng đến tim phổi và tình trạng của trẻ, thay vì chỉ dựa vào kích thước lỗ thông.
Đặc biệt, trẻ có thông liên thất quanh màng cần được theo dõi lâu dài do lỗ thông nằm gần van động mạch chủ, van ba lá và hệ thống dẫn truyền của tim. Một số trường hợp có thể xuất hiện hở van động mạch chủ hoặc rối loạn dẫn truyền trong quá trình diễn tiến bệnh. Vì vậy, ngay cả khi trẻ không có biểu hiện bất thường rõ ràng, phụ huynh vẫn nên đưa trẻ khám và siêu âm tim theo lịch của bác sĩ tim mạch nhi, không tự ý bỏ theo dõi chỉ vì trẻ vẫn ăn uống, vui chơi và phát triển bình thường.
Với trẻ có chỉ định đóng thông liên thất, phương pháp can thiệp được lựa chọn dựa trên đặc điểm giải phẫu và tình trạng cụ thể, có thể đóng bằng can thiệp qua da hoặc phẫu thuật.
Sau khi đóng thông liên thất, trẻ vẫn cần tái khám, siêu âm tim và điện tim theo lịch để kiểm tra vị trí, hoạt động của dụng cụ, dòng máu tồn lưu, chức năng tim, các van tim và hệ thống dẫn truyền. Theo dõi lâu dài giúp phát hiện sớm những thay đổi nếu có và đánh giá quá trình hồi phục của tim sau khi loại bỏ dòng máu bất thường.
*Thông tin người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH