Huyết áp cao suốt ba tháng dù uống thuốc đều đặn, anh Tân, 31 tuổi, bất ngờ khi bác sĩ chẩn đoán hẹp eo động mạch chủ.

Trước giờ anh Tân luôn cảm thấy sức khỏe tốt, sinh hoạt và làm việc bình thường, chỉ thỉnh thoảng choáng váng thoáng qua. Anh đo huyết áp cao khoảng 180-200 mmHg và bắt đầu uống thuốc huyết áp. Anh uống thuốc nhưng huyết áp vẫn dao động cao 160-180 mmHg.
Ngày 21/3, BS.CKI Phạm Thục Minh Thủy, khoa Tim bẩm sinh, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM cho biết, con trai anh Tân năm nay 5 tuổi, từng mổ sửa chữa hẹp eo động mạch chủ lúc hơn 1 tuổi. Hẹp eo động mạch chủ – một bệnh lý tim bẩm sinh, hiện theo dõi tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh. Trong quá trình thăm khám và tư vấn, bác sĩ giải thích với ông bà nội về tình trạng bệnh của con trai anh và khuyên hai vợ chồng anh nên sắp xếp kiểm tra tim mạch.
Khi hai vợ chồng đến bệnh viện, bác sĩ Thủy ghi nhận huyết áp anh Tân rất cao, đo huyết áp tứ chi chênh lệch rõ (huyết áp tay xấp xỉ 200 mmHg trong khi huyết áp chân chỉ khoảng 120 mmHg). Nghi ngờ anh Tân cũng mắc hẹp eo động mạch chủ như thể bệnh của con trai mình, bác sĩ đề nghị anh Tân thực hiện siêu âm tim kiểm tra. Kết quả khiến anh Tân bất ngờ vì ở tuổi 31, anh được thông báo mắc bệnh giống con trai.
Trường hợp của anh như thể “sinh con rồi mới sinh cha”, nghĩa là bố mẹ không hề biết bệnh, tình cờ trong quá trình điều trị cho con, được khuyên tầm soát mới biết mình mắc bệnh tim bẩm sinh.
Động mạch chủ là động mạch lớn nhất, giúp vận chuyển máu giàu oxy từ tim đến não và toàn bộ các phần còn lại của cơ thể. Ở bệnh nhân hẹp eo động mạch chủ, lượng máu giảm khi đi qua đoạn động mạch chủ bị thu hẹp. Điều này lâu dài làm thay đổi thụ thể baroreceptor của động mạch cảnh, đồng thời cũng do lưu lượng máu đến phần dưới của cơ thể, trong đó có giảm tưới máu thận, có thể kích hoạt hệ thống renin – angiotensin – aldosterol gây tăng huyết áp.
Trường hợp của anh Tân còn đi kèm với bệnh van động mạch chủ hai mảnh (bình thường van động mạch chủ có ba mảnh van) do dính giữa lá vành phải và lá vành trái, gây ra hiện tượng đóng mở bất thường của van, gây hở van động mạch chủ.
Đồng thời, do ảnh hưởng của dòng máu xoáy bất thường khi đi qua van dẫn đến giãn xoang Valsalva và giãn động mạch chủ lên. Anh Tân được chỉ định làm thêm các cận lâm sàng đánh giá những bất thường hay kèm theo như nang thận (siêu âm bụng ghi nhận kích thước và cấu trúc thận của anh bình thường), túi phình mạch máu ở não (đánh giá bằng cộng hưởng từ sọ não, may mắn kết quả của Tân không ghi nhận túi phình mạch não).
Bệnh hẹp eo động mạch chủ của anh Tân hiện đã diễn tiến, dẫn đến quá tải áp lực trong động mạch phía trước chỗ hẹp, gây phì đại thất trái và tăng huyết áp chi trên. Đồng thời, tình trạng này gây giảm tưới máu đến các cơ quan ổ bụng và chi dưới. Đây là nguyên nhân khiến huyết áp của anh Tân không hạ dù điều trị bằng thuốc.
BS.CKII Vũ Năng Phúc, Trưởng khoa Tim bẩm sinh, nhận định tình trạng bệnh của anh Tân nguy hiểm (hẹp khít eo động mạch chủ), tạo áp lực lớn lên tâm thất trái. Nếu không can thiệp đúng thời điểm, bệnh có thể diễn tiến nặng gây tăng huyết áp mạn tính, thậm chí gây biến chứng xuất huyết não, phình động mạch chủ, suy tim, suy thận, thậm chí tử vong.
Bác sĩ chỉ định chụp CT động mạch chủ để xác định kích thước, vị trí, chiều dài hẹp eo động mạch chủ, cũng như kích thước động mạch chủ trước và sau chỗ hẹp. Đồng thời, đánh giá vôi hóa quanh vị trí hẹp eo vì khả năng vôi hóa quanh chỗ hẹp eo cao, tiềm ẩn nguy cơ vỡ động mạch chủ trong lúc can thiệp. Dựa trên kết quả thu được, ê kíp lựa chọn stent có màng bọc bên ngoài với đường kính 16 mm, kích thước bộ dụng cụ đưa vào nhỏ nhất để tránh làm tổn thương mạch máu chỗ chích.
Bác sĩ Phúc đưa stent có gắn bóng ở đầu, đi từ động mạch vùng đùi đến vị trí eo động mạch chủ bị hẹp. Khi stent nằm đúng chỗ, bác sĩ nong bóng để stent nở ra, ôm sát thành động mạch chủ. Trước khi kết thúc thủ thuật, ê kíp đo lại chênh áp sau đặt stent, chụp kiểm tra để đảm bảo stent nở tốt, không bóc tách mạch máu.

Anh Tân tỉnh táo sau can thiệp, huyết áp về mức 130/80 mmHg, chỉ số huyết áp giữa chi trên và chi dưới tương đồng, xuất viện hai ngày sau đó.
Bác sĩ Phúc nhấn mạnh, hẹp eo động mạch chủ có thể điều trị nhưng cần theo dõi lâu dài. Bệnh nhân vẫn có nguy cơ tái hẹp, phình giãn động mạch chủ hoặc vẫn còn huyết áp cao, những ảnh hưởng của bệnh kèm theo, ví dụ hẹp hở van động mạch chủ của van động mạch chủ hai mảnh… Do đó sau can thiệp điều trị, bệnh nhân cần xây dựng chế độ ăn uống khoa học, tốt cho tim mạch, vận động điều độ, tái khám định kỳ. Phụ nữ đã điều trị hẹp eo động mạch chủ nếu muốn mang thai, cần thăm khám, trao đổi kỹ với bác sĩ.
Hẹp eo động mạch chủ tiềm ẩn nhiều biến chứng nguy hiểm và có thể phát hiện trễ do không có triệu chứng rõ ràng. Như anh Tân không tìm ra bệnh khi còn nhỏ, đến lúc bác sĩ khuyên anh đi khám tầm soát mới biết mình mắc bệnh.
Một số bệnh nhân có bộc lộ triệu chứng như da nhợt nhạt, đổ mồ hôi nhiều, thở nhanh, thở khó nhọc, mạch đập nhanh, ít bú (ở trẻ em); nhức đầu, huyết áp cao, có vấn đề về thận, yếu ở hai chân khi hoạt động thể chất (ở người lớn). Vì thế nếu thấy xuất hiện bất thường hoặc có tiền sử gia đình mắc bệnh tim mạch, cần đi khám sớm để được điều trị kịp thời, hạn chế các biến chứng.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH