Sau khi khỏi bệnh lao, khí quản của chị Thanh, bị hẹp gần 90%, chỉ còn một khe hở vài milimet để không khí đi qua, nguy cơ suy hô hấp bất cứ lúc nào.
Ba năm trước, chị Thanh, 32 tuổi, được chẩn đoán mắc lao phổi và lao phế quản. Dù đã hoàn tất phác đồ điều trị lao sáu tháng, nhưng vi khuẩn lao đã tấn công trực tiếp vào hệ hô hấp, gây tổn thương niêm mạc sâu, hoại tử sụn phế quản và kích thích tăng sinh mô xơ sẹo chít hẹp lòng khí quản theo thời gian.
Tình trạng này tiến triển ngày càng nặng. Ban đầu, chị Thanh nghẹt mũi, thở khò khè, khàn tiếng, khó thở khi gắng sức… và thỉnh thoảng đau tức ngực. Tình trạng khó thở tăng lên khoảng một tháng nay, khó thở tăng dần ngay cả khi gắng sức nhẹ hay sinh hoạt hằng ngày.
Kết quả chụp CT tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho thấy một đoạn khí quản dài 2 cm, nằm đoạn 1/3 giữa, bị hẹp khít tới 87%, kích thước lòng khí quản chỉ còn 3,6 x 8,7mm (bình thường đường kính trước sau khoảng 10 – 21mm và đường kính ngang 13 – 15mm). Ngoài ra, phế quản gốc trái của người bệnh cũng đã bị tắc nghẽn hoàn toàn trước đó, gây xẹp hoàn toàn phổi trái. Hiện, người bệnh chỉ còn một lá phổi để trao đổi oxy.
“Khí quản người bệnh gần như chỉ còn một khe hẹp để không khí đi qua. Chỉ cần phù nề thêm hoặc đờm bít lại, người bệnh có thể suy hô hấp cấp và tử vong”, PGS.TS.BS Vũ Hữu Vĩnh, Giám đốc Trung tâm Ngoại Lồng Ngực – Mạch máu nhận định.
Phó giáo sư Vĩnh giải thích, vi khuẩn lao từng gây tổn thương niêm mạc đường thở, hoại tử sụn phế quản và kích thích hình thành mô sẹo. Theo thời gian, mô sẹo co kéo khiến lòng khí quản và phế quản hẹp dần, gây cản trở lưu thông không khí. Sau hội chẩn, êkíp quyết định phẫu thuật tạo hình đoạn khí quản bị hẹp để giải phóng đường thở cho người bệnh
Thách thức lớn nhất đối với êkíp là bảo đảm thông khí để cung cấp đủ oxy cho não và các cơ quan khi đường thở bị tắc nghẽn nặng cùng với vị trí đoạn hẹp này gây khó khăn để mở khí quản tỉnh hay đặt nội khí quản qua vị trí này. Người bệnh còn đối mặt với nguy cơ bị gián đoạn thông khí, dễ mất bảo hòa oxy máu và thiếu oxy mô nghiêm trọng trong lúc cắt đoạn khí quản hẹp và nối lại với nhau. Êkíp gây mê cần đảm bảo đường thở, theo dõi sát và phối hợp cùng với phẫu thuật viên để duy trì oxy liên tục cho não và các cơ quan trong suốt quá trình phẫu thuật.
BSNT.CKI Phan Quốc Thái, khoa Gây mê Hồi sức, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho biết ekip gây mê đã cân nhắc rất thận trọng và lựa chọn gây mê mask thanh quản, không sử dụng giãn cơ để thông khí giai đoạn đầu khi phẫu thuật viên tiếp cận đoạn khí quản hẹp, thay vì dùng kỹ thuật kiểm soát đường thở bằng ống nội khí quản như truyền thống. Lựa chọn này có thể giúp đảm bảo thông khí, tránh làm hẹp thêm lòng khí quản vốn đã hẹp, đồng thời giúp duy trì được khả năng tự thở của người bệnh. Bên cạnh đó, người bệnh được dự phòng ECMO cho trường hợp thông khí bước đầu thất bại.

Trong lúc phó giáo sư Vĩnh rạch mở đoạn khí quản tổn thương, trực tiếp bóc tách từng lớp mô xơ, nhanh chóng cắt rời khí quản qua đoạn hẹp và đặt ống thông khí trực tiếp vào đầu xa của khí quản, tiếp theo êkíp gây mê thực hiện thông khí qua phẫu trường và liên tục phối hợp nhịp nhàng với ekip phẫu thuật để điều chỉnh vị trí ống nội khí quản, đảm bảo người bệnh được thông khí liên tục. Khi thông khí đã được đảm bảo, sinh hiệu người bệnh ổn định, phần khí quản còn lại quản tiếp tục được sửa chữa, tạo hình theo phương pháp trượt (sliding technique). Sau khi tái tạo khí quản, một ống nội khí quản khác được đưa từ miệng bệnh nhân vào khí quản và qua khỏi đoạn cắt đi xuống đoạn khí quản phía dưới.
Cuối phẫu thuật, chị Thanh được khâu cố định cằm vào ngực để giữ tư thế cổ gập về trước, giúp miệng nối khí quản không bị căng, sau đó tiếp tục theo dõi tại khoa Hồi sức tích cực (ICU). Chị Thanh đã được gây tê mặt phẳng cơ dựng sống để giảm đau, vì vậy dù phẫu thuật mở ngực lớn nhưng chị Thanh không hề cảm thấy đau vị trí mổ trong những ngày đầu sau phẫu thuật. Phần cằm khâu vào ngực được cắt chỉ sau 4 ngày. Một tuần sau mổ, người bệnh hồi phục ngoạn mục, các triệu chứng khó thở, tức ngực không còn nữa, có thể sinh hoạt, và cải thiện được khả năng gắng sức đáng kể. Sức khỏe chị hoàn toàn ổn định. Tuy nhiên chị cần trải qua thêm một cuộc mổ nữa trong tương lai để tái thông đoạn phế quản trái bị tắc với hy vọng khôi phục tối đa chức năng hô hấp cho người bệnh.
“Ở các nước châu Á, hẹp khí quản là một trong những biến chứng nặng sau lao khí phế quản, với tỷ lệ 5,9-11%. Tỷ lệ biến chứng ở phẫu thuật hẹp khí quản là 20% và tỷ lệ tử vong là 1-5% qua các báo cáo”, bác sĩ Thái nói và cho biết, để đảm bảo sự thành công cho một ca phẫu thuật tạo hình khí quản do hẹp khít, đòi hỏi cần có sự chuẩn bị kỹ lưỡng, chuẩn bị nhiều phương án trong tiếp cận và quản lý đường thở. Ngoài ra bệnh viện cần có đầy đủ trang thiết bị, máy móc hiện đại cùng với sự phối hợp đa chuyên khoa, trong đó sự phối hợp của ekip gây mê và phẫu thuật viên là chìa khóa cho sự thành công đối với loại phẫu thuật này.
Phó giáo sư Vĩnh cho biết, không ít người sau điều trị lao nghĩ rằng đã khỏi bệnh nên không tái khám. Trong khi đó, sẹo hẹp khí quản là tình trạng thường gặp ở người từng điều trị lao do thói quen ngại ho khạc, khiến dịch đờm ứ đọng gây xơ hóa. Do đó, phó giáo sư Vĩnh khuyến cáo những người từng mắc lao nếu xuất hiện các triệu chứng như khó thở kéo dài, thở khò khè hoặc đau tức ngực khi vận động, cần thăm khám, tầm soát nguy cơ hẹp khí quản, tránh để tổn thương tiến triển nặng, dẫn đến hủy hoại phổi, đe dọa tính mạng.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH