Vị trí đặt stent cũ bị hẹp trở lại lần thứ hai, với hai lớp stent chồng lên nhau, nên việc tái thông mạch lần thứ ba trở nên rất khó khăn.

Ông Lâm (72 tuổi) có tiền sử tăng huyết áp và đái tháo đường tuýp 2 khoảng 15 năm nay. Năm 2011, ông được chẩn đoán bệnh mạch vành 3 nhánh, được can thiệp đặt stent lần đầu tiên với 2 stent ở động mạch liên thất trước (LAD) và 1 stent ở động mạch vành phải (RCA). Năm 2022, do tái hẹp stent của mạch vành phải, ông tiếp tục được đặt thêm 2 stent chồng lên stent cũ để tái thông dòng máu nuôi tim. Năm 2019, ông từng trải qua một cơn đột quỵ não, khiến tình trạng sức khỏe càng phức tạp.
Tháng 11/2025, ông Lâm tới thăm khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội trong tình trạng đau tức ngực trái tái phát, thường xuất hiện vào buổi sáng và gia tăng khi đi bộ hoặc leo cầu thang.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Duy, khoa Tim mạch, cho biết kết quả chụp mạch vành cho thấy nhiều vị trí tái hẹp. Các đoạn stent cũ tại động mạch vành phải hẹp nặng tới 90-95%, trong khi các đoạn khác cũng bị hẹp lan tỏa 40-80%. Động mạch liên thất trước tái hẹp khoảng 40-50%. Những tổn thương này giải thích phần nào các cơn đau ngực tái phát của ông Lâm.
Tình trạng tái hẹp trong stent cũ của người bệnh là hiện tượng lòng mạch đã được đặt stent trước đó bị hẹp trở lại, khiến dòng máu nuôi tim bị cản trở, gây thiếu máu cơ tim và đau thắt ngực. Nếu không can thiệp kịp thời, nguy cơ tiến triển thành nhồi máu cơ tim, đe dọa trực tiếp tính mạng bệnh nhân.
Theo bác sĩ Duy, trước đó ông Lâm đã trải qua 2 lần can thiệp mạch máu có 2 lớp stent chồng lên nhau, khiến việc can thiệp lần thứ ba trở nên phức tạp hơn. Tỉ lệ tái hẹp sẽ tăng cao khi tiếp tục đặt thêm 1 lớp stent nữa.
Thay vì đặt thêm stent chồng lên stent cũ, các bác sĩ đã lựa chọn kỹ thuật nong bóng phủ thuốc. Để chuẩn bị tốt cho kỹ thuật này, êkíp sử dụng bóng áp lực cao và bóng cắt để phá mảng xơ vữa. Sau đó, bệnh nhân được đánh giá lại bằng các phương tiện hình ảnh nội mạch (IVUS/OCT) nhằm đảm bảo lòng mạch đã mở tối ưu, không có bóc tách sâu. Khi lòng mạch đạt tiêu chuẩn mở rộng tốt, hẹp còn dưới 30%, êkíp sử dụng bóng phủ thuốc, có khả năng phóng thích thuốc chống tăng sinh tế bào vào thành mạch, giúp ngăn tái hẹp hiệu quả mà không cần thêm khung kim loại.

Nhờ sự trang bị đầy đủ các trang thiết bị hiện đại và quy trình can thiệp chuẩn xác, ca tái thông mạch của ông Lâm diễn ra thuận lợi. Sau can thiệp, ông hết đau ngực, hồi phục nhanh, và được xuất viện chỉ sau 3 ngày điều trị.
Theo bác sĩ Duy, dù kỹ thuật và vật liệu stent đã tiến bộ nhiều trong hai thập kỷ qua, tái hẹp trong stent vẫn có thể xảy ra, đặc biệt ở những bệnh nhân có nhiều bệnh nền mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp hay rối loạn mỡ máu. Nguyên nhân có thể liên quan đến yếu tố cơ học như stent không nở hết, không che phủ đủ tổn thương hoặc bị đứt gãy do mảng vôi hóa; hoặc yếu tố sinh học khi cơ thể phản ứng viêm, tăng sinh nội mạc khiến lòng mạch dày lên trở lại.
Để giảm nguy cơ tái hẹp, bác sĩ Duy khuyến cáo các kỹ thuật can thiệp cần được tối ưu hóa tốt nhất bằng các phương tiện chẩn đoán hình ảnh nội mạch hiện đại, đồng thời êkíp bác sĩ can thiệp chuẩn bị kỹ tổn thương trước khi đặt stent hoặc nong bóng phủ thuốc.
Người bệnh sau đặt stent cần tuân thủ uống thuốc kháng kết tập tiểu cầu và statin theo đúng chỉ định của bác sĩ; kiểm soát tốt huyết áp, đường huyết và mỡ máu; không hút thuốc, hạn chế rượu bia, duy trì cân nặng hợp lý và tái khám định kỳ, đặc biệt khi xuất hiện các triệu chứng như đau ngực trở lại.
*Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH