Khám phổi như thế nào là câu hỏi được nhiều người quan tâm khi gặp các vấn đề về hô hấp. Vậy, khám phổi như thế nào, bao gồm các hạng mục khám nào và ai nên đi khám phổi? Khi thực hiện các kỹ thuật hay xét nghiệm chức năng phổi thì cần lưu ý gì?

Khám phổi (hay kiểm tra, chụp chiếu, xét nghiệm chức năng phổi) là một quá trình kiểm tra chuyên sâu nhằm đánh giá cấu trúc và chức năng hoạt động của phổi và đường hô hấp, tùy trường hợp. Các bước khám phổi rất quan trọng để phát hiện sớm các bất thường hay bệnh lý ở phổi như viêm phổi, hen suyễn, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), lao, ung thư phổi,…
Quy trình khám phổi thường được chia thành 2 giai đoạn chính: Khám lâm sàng (bác sĩ trực tiếp quan sát, sờ, gõ, nghe phổi) và Cận lâm sàng (xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh).
Ý nghĩa và vai trò quan trọng của việc khám phổi:
Người bệnh cần chụp chiếu, xét nghiệm chức năng phổi trong các trường hợp như:
Các triệu chứng trên là tín hiệu cảnh báo chức năng phổi có thể đang suy giảm, cần được khám và xét nghiệm để tìm nguyên nhân và mức độ tổn thương.

Tùy theo mục đích, bác sĩ sẽ lựa chọn xét nghiệm phù hợp. Một số xét nghiệm khi khám phổi phổ biến gồm:
Đo hô hấp ký là xét nghiệm dùng để đánh giá lượng không khí mà phổi có thể thở ra và tốc độ thở ra. Trong quá trình thực hiện, người bệnh sẽ hít sâu hết mức, sau đó thổi mạnh và nhanh vào ống ngậm cho đến khi không còn không khí thoát ra. Thời gian thực hiện xét nghiệm thường từ 10 – 20 phút và có thể kéo dài hơn nếu kết hợp đánh giá đáp ứng với thuốc giãn phế quản.

Xét nghiệm DLCO giúp kiểm tra xem oxy có dễ dàng đi từ phế nang (túi khí) vào máu hay không. Người thực hiện xét nghiệm sẽ hít vào một lượng nhỏ khí Carbon Monoxide (CO) an toàn, giữ hơi thở trong 10 giây rồi thở ra. Máy sẽ đo lượng CO còn lại để biết khả năng hấp thụ của phổi.
Đo lưu lượng đỉnh thở ra là xét nghiệm dùng để đo tốc độ của luồng khí khi người bệnh hít sâu rồi thở ra hết sức. Người bệnh hen suyễn có thể được chỉ định thực hiện xét nghiệm này hằng năm. Ngoài ra, một số trường hợp có thể được bác sĩ hướng dẫn tự theo dõi chỉ số PEF tại nhà theo kế hoạch kiểm soát hen.
Bác sĩ có thể chỉ định đo khí máu động mạch (xét nghiệm máu lấy từ động mạch) để đánh giá nồng độ oxy, CO₂ và độ pH máu.
Ngoài ra, còn có nhiều loại xét nghiệm khác giúp đo lường khả năng hoạt động của phổi khi người bệnh vận động, bao gồm:
Bác sĩ có thể chỉ định một hoặc nhiều xét nghiệm chức năng phổi bên trên, tùy thuộc vào tình trạng và bệnh lý của mỗi người.

Quy trình khám phổi lâm sàng diễn ra như sau:
Trước khi khám phổi, người bệnh cần chuẩn bị những bước sau:
>> Tìm hiểu thêm: Phòng khám phổi TP.HCM ở đâu uy tín, chuyên nghiệp?
Bốn phương pháp khám phổi gồm: Nhìn – Sờ – Gõ – Nghe có thể được tiến hành cụ thể như sau:
Bác sĩ quan sát, đánh giá kiểu thở của người bệnh như thở ngực, thở ngực – bụng, dùng cơ hô hấp phụ. Các cơ bậc thang, cơ ức đòn chũm, cơ liên sườn hoạt động quá mức là dấu hiệu cho thấy người bệnh đang gắng sức khi thở, thường liên quan đến bệnh lý phổi. Song song với đó, bác sĩ cũng chú ý đến các bất thường của lồng ngực. Lõm ngực là tình trạng xương ức lõm vào trong. Ức gà là tình trạng xương ức nhô ra trước. Lồng ngực hình thùng có thể gặp ở người lớn mắc COPD.
Lưu ý: Các biến dạng cột sống như gù hoặc vẹo cũng ảnh hưởng đến chức năng hô hấp. Khi đánh giá, bác sĩ sẽ chú ý phát hiện sớm dấu hiệu tím tái ở môi hoặc đầu ngón tay. Ngoài ra, tư thế của người bệnh cũng được ghi nhận một cách chi tiết. Người suy hô hấp nặng thường ngồi thẳng. Khi khó thở, họ có thể ngồi cúi người về phía trước và chống tay lên gối (tư thế tripod). Thở chúm môi thường gặp ở người bị khí phế thũng. Một số người có chức năng hô hấp suy giảm sẽ dễ bị hụt hơi hoặc không nói được trọn vẹn câu hoặc.
Sờ nắn khi khám phổi giúp phát hiện khối bất thường hoặc tiếng lạo xạo của xương. Rung thanh được đánh giá bằng cách đặt tay lên lưng người bệnh và yêu cầu họ phát âm. Rung thanh tăng thường do nhu mô phổi đặc hơn bình thường. Rung thanh giảm gợi ý bệnh lý màng phổi như tràn dịch, tràn khí làm cản trở quá trình truyền rung từ phổi ra thành ngực.
Bác sĩ sử dụng ngón tay để gõ lên lồng ngực và lưng của người bệnh. Kỹ thuật này giúp phát hiện tràn khí hoặc tràn dịch trong khoang màng phổi. Khu vực phổi bình thường cho âm vang dịu. Nếu có tràn khí âm sẽ vang hơn, nếu có dịch âm sẽ đục hơn.
Bác sĩ dùng ống nghe để lắng nghe âm thanh phổi. Âm thở bình thường là âm rì rào phế nang. Không nghe thấy âm thở có thể do thở nông, bất thường giải phẫu hoặc các bệnh lý như tắc nghẽn đường thở, bóng khí, tăng khí phổi, tràn khí, tràn dịch màng phổi hoặc béo phì. Nếu xuất hiện ran (ran rít, ran ngáy, ran nổ) hay âm thanh bất thường (như tiếng cọ màng phổi, âm to, cao) thì đó chính là dấu hiệu bệnh lý.
Quá trình khám chức năng phổi không gây đau đớn, không xâm lấn. Người bệnh chỉ cần hít sâu và thở ra hay nín thở trong giây lát theo hướng dẫn của bác sĩ. Một số người có thể cảm thấy hơi khó thở hoặc chóng mặt tạm thời do phải thở mạnh hơn bình thường, nhưng tình trạng này thường nhẹ và sẽ tự hết sau khi ngừng test.
Chi phí khám và xét nghiệm chức năng phổi phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: cơ sở y tế, loại xét nghiệm, số xét nghiệm, máy móc kỹ thuật, mức chi trả của BHYT,… Nhìn chung, giá khám phổi thường dao động từ 200.000 – 500.000 VNĐ (thường chưa tính các cận lâm sàng, xét nghiệm). Người bệnh nên liên hệ với bệnh viện để được tư vấn về chi phí ngay tại thời điểm có nhu cầu thực hiện khám phổi và thực hiện các kiểm tra, xét nghiệm chức năng phổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Hiểu rõ khám phổi như thế nào giúp mỗi người chủ động đi khám khi cần thiết và bảo vệ sức khỏe đường hô hấp, giảm nguy cơ biến chứng. Thăm khám định kỳ và tuân thủ hướng dẫn của bác sĩ là bước quan trọng để duy trì lá phổi khỏe mạnh lâu dài.