Hà Nội – Hoàng, 17 tuổi có tiền sử hen phế quản, nhiều lần ho, khạc đờm và được điều trị viêm phổi. Khi thăm khám chuyên sâu, các bác sĩ phát hiện một vùng phổi biệt lập gần 10 cm ở thùy dưới phổi trái, kèm giãn phế quản và nhiễm trùng.
Hoàng có tiền sử hen phế quản và đã điều trị duy trì bằng thuốc hít nhiều năm. Thời gian gần đây, em thường xuyên ho khạc đờm, khó thở; các triệu chứng tái diễn dù đã nhiều lần điều trị viêm phổi. Gia đình đưa Hoàng đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội khám chuyên khoa.
Kết quả chụp cắt lớp vi tính (CT) lồng ngực và tái tạo mạch máu cho thấy một vùng nhu mô phổi phát triển bất thường ở thùy dưới phổi trái, kích thước khoảng 91 x 99 mm, gần như chiếm toàn bộ thùy dưới. Vùng phổi này được cấp máu trực tiếp từ một nhánh động mạch xuất phát từ động mạch chủ bụng.
Phổi biệt lập là một vùng mô phổi hình thành bất thường từ thời kỳ bào thai. Khác với phổi bình thường, vùng mô này không kết nối với hệ thống phế quản và nhận máu từ hệ tuần hoàn, thường là một nhánh của động mạch chủ. Vì không được thông khí và dẫn lưu dịch tiết như bình thường, vùng phổi biệt lập dễ trở thành nơi ứ đọng dịch, gây nhiễm trùng tái phát, giãn phế quản hoặc áp xe phổi.
Động mạch nuôi phổi biệt lập thuộc hệ tuần hoàn có áp lực cao. Vì vậy, một số người bệnh có thể ho ra máu, hiếm hơn là chảy máu nặng. Đặc điểm này cũng làm tăng nguy cơ chảy máu trong phẫu thuật nếu mạch máu bất thường không được xác định và kiểm soát cẩn thận.
Qua thăm khám và các xét nghiệm chuyên sâu, Hoàng được các bác sĩ chẩn đoán phổi biệt lập nội thùy kèm giãn phế quản và nhiễm trùng đường hô hấp dưới, được cho nhập viện điều trị nội trú tại Khoa Hô hấp để kiểm soát nhiễm trùng trước khi xem xét vấn đề điều trị triệt để nguyên nhân gây viêm phổi tái phát.

TS.BS Phạm Thị Lệ Quyên, Phó Trưởng khoa Hô hấp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết ca bệnh phức tạp do vùng phổi biệt lập có kích thước lớn, gần như chiếm toàn bộ thùy dưới phổi trái và xen lẫn với nhu mô phổi lành, không có ranh giới tách biệt rõ. Tình trạng nhiễm trùng kéo dài đã gây giãn phế quản và làm tổn thương cấu trúc phổi. Nếu chỉ cắt một phần nhỏ, mô bệnh có thể còn sót lại và tiếp tục gây nhiễm trùng.
Sau hội chẩn giữa các chuyên khoa hô hấp, phẫu thuật lồng ngực, chẩn đoán hình ảnh và gây mê hồi sức, hội đồng hội chẩn quyết định cắt thùy dưới phổi trái bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực.
Ca mổ được ê-kíp bác sĩ phẫu thuật lồng ngực trực tiếp thực hiện. Dưới sự hỗ trợ của hệ thống nội soi độ phân giải cao, phẫu thuật viên tỉ mỉ phẫu tích, nhận diện và kiểm soát an toàn nhánh động mạch nuôi phổi biệt lập trước khi cắt thùy phổi tổn thương. Việc kiểm soát mạch máu trước giúp hạn chế nguy cơ chảy máu, đồng thời bảo tồn tối đa phần nhu mô phổi lành còn lại.
Sau mổ, bác sĩ phẫu thuật lồng ngực phối hợp với bác sĩ hô hấp theo dõi tình trạng hô hấp, dẫn lưu màng phổi, kiểm soát đau, tập phục hồi chức năng. Người bệnh hồi phục tốt, ít đau, được rút dẫn lưu màng phổi sau một tuần và xuất viện trong tình trạng ổn định. Khi tái khám sau hơn hai tuần, vết mổ liền tốt, phần phổi còn lại thông khí tốt và không còn dấu hiệu nhiễm trùng cấp.

Theo bác sĩ Quyên, phổi biệt lập là dị tật phổi bẩm sinh hiếm gặp. Thể nội thùy nằm trong cùng màng phổi với nhu mô phổi bình thường nên có thể không được phát hiện khi mới sinh. Nhiều trường hợp chỉ được chẩn đoán ở tuổi thiếu niên hoặc trưởng thành sau các đợt nhiễm trùng hô hấp tái phát, ho khạc đờm kéo dài hoặc ho ra máu.
Hen phế quản và phổi biệt lập có thể cùng tồn tại ở một người bệnh. Ho, khò khè và khó thở có thể được cho là do hen, nhưng viêm phổi tái phát ở cùng một vị trí, đờm mủ kéo dài hoặc ho ra máu không phải là những biểu hiện điển hình của hen. Vì vậy, nếu đã điều trị hen đúng mà triệu chứng vẫn không được kiểm soát, người bệnh cần tái khám để bác sĩ đánh giá việc dùng thuốc và tìm thêm nguyên nhân phối hợp, không nên tự ý ngừng thuốc hít.
Tùy từng trường hợp, bác sĩ có thể xem lại các phim chụp cũ và chỉ định X-quang, CT lồng ngực có tiêm thuốc cản quang và tái tạo mạch máu, nội soi phế quản hoặc các thăm dò khác. Người bệnh không nên tự yêu cầu chụp CT, việc lựa chọn xét nghiệm cần dựa trên thăm khám và đánh giá của bác sĩ chuyên khoa.
Với phổi biệt lập có triệu chứng hoặc gây nhiễm trùng tái phát, phẫu thuật thường là phương pháp điều trị chính. Bác sĩ phẫu thuật lồng ngực có vai trò đánh giá chỉ định, lựa chọn phạm vi cắt phổi, trực tiếp thực hiện phẫu thuật và theo dõi hậu phẫu. Một số trường hợp có thể được cân nhắc can thiệp nút mạch. Lựa chọn điều trị cần được cá thể hóa sau hội chẩn giữa bác sĩ hô hấp, bác sĩ phẫu thuật lồng ngực và bác sĩ chẩn đoán hình ảnh hoặc can thiệp mạch.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH