Hẹp tĩnh mạch phổi ít gặp và có thể xảy ra do bẩm sinh hoặc thứ phát. Triệu chứng của bệnh thường không đặc hiệu nên dễ bị nhầm lẫn hoặc bỏ sót, dẫn đến những biến chứng nguy hiểm. Vậy, làm sao để nhận biết dấu hiệu nghi ngờ khi mắc bệnh? Phương pháp điều trị như thế nào?
Hẹp tĩnh mạch phổi được định nghĩa như thế nào?
Hẹp tĩnh mạch phổi (Pulmonary Vein Stenosis – PVS) là một rối loạn ít gặp khi kích thước lòng mạch của một hoặc nhiều tĩnh mạch phổi bị thu hẹp. Tình trạng này có thể cản trở dòng máu từ phổi về nhĩ trái của tim, khiến áp lực trong mao mạch phổi tăng lên và gây khó thở. Mức độ nghiêm trọng của PVS phụ thuộc vào số lượng, vị trí và mức độ mạch bị hẹp cùng những bệnh lý kèm theo. Nếu không được can thiệp kịp thời, bệnh có thể gây tăng áp động mạch phổi, giãn phế nang, suy tim phải, thậm chí đe dọa tính mạng của người bệnh. (1)
Các loại hẹp tĩnh mạch phổi
Có 2 dạng PVS – Hẹp tĩnh mạch phổi:
1. Hẹp do di truyền từ khi sinh
Bệnh chiếm khoảng 0,4% các bệnh tim bẩm sinh và thường đi kèm với các dị tật tim khác. Phần lớn trường hợp sẽ được chẩn đoán trong khoảng 3 năm đầu đời. Tuy nhiên, một số ít có thể bị bỏ sót và chỉ phát hiện khi trưởng thành hoặc tình cờ trong quá trình chụp chiếu để kiểm tra bệnh lý khác.
2. Hẹp do thứ phát
Tĩnh mạch phổi bị hẹp ở người trưởng thành hiếm gặp. Bệnh thường liên quan đến các bệnh lý trung thất hoặc biến chứng từ phẫu thuật và thủ thuật can thiệp tim phổi, ví dụ thủ thuật đốt sóng cao tần quanh tĩnh mạch phổi.
Nguyên nhân khiến tĩnh mạch phổi bị hẹp
Hẹp tĩnh mạch phổi có thể xảy ra do những nguyên nhân như:
1. Hẹp tĩnh mạch phổi bẩm sinh
Xảy ra do tĩnh mạch phổi phải hoặc trái không hợp nhất vào nhĩ trái trong quá trình phát triển phôi thai, gây tắc nghẽn tĩnh mạch phổi một phần hoặc hoàn toàn. Về mặt mô học, đặc điểm nổi bật là sự tăng sinh mô liên kết kèm phì đại cơ và xơ hóa lớp nội mạc, làm cản trở dòng máu qua tĩnh mạch.
2. Hẹp tĩnh mạch phổi mắc phải
Biến chứng từ đốt sóng cao tần (RFA) để điều trị chứng rung nhĩ.
Khối u trung thất:
Chèn ép bên ngoài bệnh lý hạch bạch huyết hoặc u hạt trong bệnh sarcoidosis
Viêm trung thất xơ hóa là một biến chứng hiếm gặp của bệnh lao và nhiễm nấm Histoplasma Capsulatum. Bệnh gây xơ hóa không kiểm soát xung quanh các hạch bạch huyết trung thất chịu ảnh hưởng và có thể dẫn đến xâm lấn, tắc nghẽn tĩnh mạch phổi xung quanh.
Khối u phát triển gần các tĩnh mạch phổi cũng có thể chèn ép hoặc thâm nhiễm và gây hẹp.
Biến chứng phẫu thuật tim mạch: phẫu thuật sửa chữa hồi lưu tĩnh mạch phổi bất thường hoàn toàn, cắt bỏ u nhầy, ghép phổi…
Những biểu hiện nghi ngờ hẹp tĩnh mạch phổi cần lưu ý
1. Ở nhóm trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ
Các triệu chứng hẹp tĩnh mạch phổi ở trẻ sơ sinh có thể xuất hiện đột ngột như sau:
Thở nhanh, khó thở
Bú kém, chậm phát triển
Thở rút lõm lồng ngực
Viêm phổi hoặc viêm phế quản tái phát
Ho kéo dài
Trẻ nhỏ mắc PVS thường thở nhanh, khó thở và chậm phát triển
2. Ở nhóm trẻ em lớn và người lớn
Các triệu chứng hẹp tĩnh mạch phổi thường tiến triển theo thời gian như sau:
Nhịp tim nhanh
Thở nhanh và nông
Dễ hụt hơi, đặc biệt khi gắng sức
Ho liên tục, có thể kèm theo máu
Da dẻ nhợt nhạt, xanh xao
Tím tái ở da, môi hoặc móng
Chán ăn, mệt mỏi
Người lớn mắc bệnh có thể cảm thấy dễ hụt hơi khi gắng sức, mệt mỏi và da dẻ xanh xao
Phương pháp chẩn đoán tình trạng tĩnh mạch phổi bị hẹp
Sau khi thăm khám lâm sàng và nghi ngờ bị hẹp tĩnh mạch phổi, bác sĩ có thể chỉ định những xét nghiệm hình ảnh như:
Siêu âm tim: Sử dụng sóng âm để tạo ra hình ảnh chuyển động của tim. Qua đó đánh giá vận tốc dòng chảy, đồng thời phát hiện những bất thường liên quan đến cấu trúc và chức năng tim.
Chụp CT tĩnh mạch phổi: Được xem như công cụ chính để chẩn đoán PVS. Kết quả có thể cho biết các tĩnh mạch bị hẹp, tổn thương nhu mô phổi và những dấu hiệu bất thường khác.
Chụp MRI: Có thể được cân nhắc trong trường hợp người bệnh không thể chụp CT, giúp đánh giá dòng chảy qua tĩnh mạch phổi và các bệnh lý tim bẩm sinh.
Thông tim: Đưa một ống thông nhỏ và mềm vào tim, sau đó bác sĩ sẽ chỉ định những kỹ thuật cần thiết để kiểm tra cấu trúc và chức năng tim phổi.
Quét thông khí tưới/máu phổi (Quét V/Q): Lượng tưới máu của thùy phổi dẫn lưu đến tĩnh mạch phổi giảm đáng kể có thể gợi ý tình trạng hẹp. Tuy nhiên, phương pháp này không thể xác định nguyên nhân chính xác và cần kết hợp thêm các kỹ thuật chụp chiếu khác.
Những phương pháp xử lý hẹp tĩnh mạch phổi
Những phương pháp có thể được chỉ định điều trị PVS gồm:
Theo dõi định kỳ: Dành cho những trường hợp nhẹ và không xuất hiện triệu chứng nhằm đánh giá diễn tiến của bệnh và đề xuất phương án can thiệp khi cần thiết.
Nong bóng và đặt stent: Đưa một ống thông nhỏ và mềm vào tĩnh mạch phổi bị hẹp và bơm bóng để mở rộng, sau đó có thể đặt stent nhằm hạn chế tái phát. Tuy nhiên, phương pháp này hiếm khi được chỉ định ở trẻ em do tĩnh mạch của trẻ có thể không đủ lớn để đặt stent và tiềm ẩn nguy cơ tái phát.
Phẫu thuật tim hở: Bóc tách nội mạc cắt bỏ vòng hẹp, nối trực tiếp tĩnh mạch phổi với nội tâm mạc của tâm nhĩ trái; hoặc tạo hình tĩnh mạch bằng miếng vá màng ngoài tim để mở rộng đoạn mạch bị hẹp.
Thuốc: Một số loại thuốc có thể hỗ trợ kiểm soát triệu chứng sau phẫu thuật hoặc hạn chế biến chứng. Người bệnh không nên tự ý dùng thuốc khi chưa tham khảo ý kiến của bác sĩ. Những loại thuốc có thể được sử dụng gồm thuốc chống đông máu, được khuyến cáo dùng trong ít nhất 12 tháng đối với stent hơn 1 cm; liệu pháp chống kết tập tiểu cầu kép, có thể dùng thuốc kháng viêm với thuốc chống kết tập tiểu cầu ít nhất 3 tháng; nhóm thuốc nhằm mục tiêu duy trì sự thông thoáng của mạch máu và ngăn chặn tái phát…
Ghép phổi: Được cân nhắc khi PVS gây ra tổn thương nghiêm trọng và không thể điều trị bằng những biện pháp khác. (2)
Có thể phòng tránh bị hẹp tĩnh mạch phổi không?
Hẹp tĩnh mạch phổi bẩm sinh không thể phòng tránh hoàn toàn vì liên quan đến bất thường trong giai đoạn bào thai. Tuy nhiên, mỗi người có thể giảm nguy cơ bị PVS mắc phải bằng những biện pháp như:
Khám sức khỏe định kỳ 1 – 2 lần/năm để phát hiện sớm những yếu tố nguy cơ và can thiệp kịp thời.
Điều trị và kiểm soát các bệnh lý nền, đặc biệt là bệnh về hô hấp và tim mạch.
Tuân thủ hướng dẫn chăm sóc và theo dõi sức khỏe sau phẫu thuật và can thiệp liên quan đến tim phổi.
Khám sức khỏe định kỳ và kiểm soát tốt các bệnh hô hấp (nếu có)
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Hẹp tĩnh mạch phổi dù xảy ra do bẩm sinh hay thứ phát đều rất nguy hiểm và có thể đe dọa tính mạng người bệnh nếu không được can thiệp kịp thời. Người bệnh cần thăm khám chuyên khoa Hô hấp ngay khi nhận thấy những dấu hiệu như tức ngực, khó thở, ho ra máu, da dẻ nhợt nhạt…
Cập nhật lần cuối: 11:10 01/10/2026
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
Pazos-López, P. (2016). Pulmonary vein stenosis: Etiology, diagnosis and management. World Journal of Cardiology, 8(1), 81. https://doi.org/10.4330/wjc.v8.i1.81
Boston Children’s Hospital. (n.d.). Pulmonary vein stenosis. https://www.childrenshospital.org/conditions-treatments/pulmonary-vein-stenosis