
Chỉ số glucose trong xét nghiệm máu là một trong những thông số quan trọng giúp đánh giá lượng đường trong máu và tình trạng chuyển hóa của cơ thể. Đây cũng là xét nghiệm thường quy để tầm soát, chẩn đoán và theo dõi đái tháo đường. Vậy glucose trong xét nghiệm máu là gì, vai trò và có các loại xét nghiệm glucose máu nào, khi nào cần thực hiện? Cùng tìm hiểu trong bài viết bên dưới.

Glucose trong xét nghiệm máu là chỉ số phản ánh lượng đường có trong máu tại thời điểm xét nghiệm. Glucose là nguồn năng lượng quan trọng giúp duy trì hoạt động của não, cơ bắp và các cơ quan trong cơ thể. Sau khi ăn, carbohydrate trong thực phẩm sẽ được chuyển hóa thành glucose và đi vào máu để cung cấp năng lượng cho tế bào.
Xét nghiệm glucose máu thường được sử dụng để đánh giá khả năng kiểm soát đường huyết, tầm soát và theo dõi đái tháo đường hoặc các rối loạn chuyển hóa khác. Chỉ số này có thể được đo lúc đói, sau ăn hoặc bất kỳ thời điểm nào tùy mục đích kiểm tra. Nếu glucose trong xét nghiệm máu quá cao hoặc quá thấp, cơ thể có thể gặp nhiều vấn đề sức khỏe ảnh hưởng đến tim mạch, thần kinh và nhiều cơ quan khác.
Chỉ số glucose trong xét nghiệm máu có vai trò rất lớn trong việc chăm sóc sức khỏe với các mục đích cụ thể:
Chỉ số glucose trong xét nghiệm máu giúp phát hiện bất thường đường huyết và hỗ trợ quá trình điều trị hiệu quả. Một số trường hợp cần thực hiện xét nghiệm glucose máu gồm: (1)
Những trường hợp nên thực hiện xét nghiệm glucose máu gồm có:
Người có triệu chứng: Những người xuất hiện các dấu hiệu của lượng đường trong máu cao như: khát nhiều (tăng cơn khát), đi tiểu nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân, mệt mỏi, mắt mờ, vết thương chậm lành, hoặc có cảm giác tê ngứa ở tay chân.
Nhóm có nguy cơ cao: Theo khuyến cáo của Hội Nội tiết Đái tháo đường Hoa Kỳ 2026: tiêu chuẩn sàng lọc đái tháo đường hoặc tiền đái tháo đường ở người trưởng thành không có triệu chứng như sau:
Người trưởng thành thừa cân hoặc béo phì (BMI trên 25 kg/m2 hoặc trên 23 kg/m2 đối với người gốc Á) có kèm theo 1 hoặc nhiều yếu tố nguy cơ sau:
Có người thân đời thứ nhất (bố, mẹ, anh chị em ruột) mắc bệnh đái tháo đường.
Chủng tộc, dân tộc có nguy cơ cao (ví dụ: người Mỹ gốc Phi, người Mỹ Latinh, người Mỹ bản địa, người Mỹ gốc Á).
Tiền sử mắc bệnh tim mạch.
Tăng huyết áp (>=130/80 mmHg hoặc đang điều trị tăng huyết áp).
Mức HDL cholesterol < 35 mg/dL (0,9 mmol/L) và/hoặc mức triglyceride > 250 mg/dL (2,8 mmol/L).
Phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS).
Ít vận động thể lực.
Các tình trạng lâm sàng khác liên quan đến kháng insulin (ví dụ: béo phì nặng, bệnh gai đen (acanthosis nigricans), bệnh gan nhiễm mỡ liên quan đến rối loạn chuyển hóa – MASLD).
Người bị tiền đái tháo đường (A1C> 5.7%), rối loạn dung nạp glucose, rối loạn đường huyết lúc đói nên được xét nghiệm hàng năm.
Phụ nữ từng được chẩn đoán mắc đái tháo đường thai kỳ (GDM) nên thực hiện xét nghiệm ít nhất mỗi 1–3 năm.
Đối với tất cả những người khác, việc xét nghiệm nên bắt đầu từ tuổi 35.
Phụ nữ mang thai: Thường được chỉ định thực hiện xét nghiệm ở tuần thứ 24-28 của thai kỳ nhằm mục đích tầm soát chứng đái tháo đường thai kỳ.

Hiện nay, để kiểm tra lượng glucose trong xét nghiệm máu, bác sĩ có thể chỉ định thực hiện một trong số các xét nghiệm sau:

Quy trình xét nghiệm glucose máu được thực hiện dựa trên 2 phương pháp chính sau:
Lấy máu tĩnh mạch: Bạn sẽ ngồi trên ghế, nhân viên y tế (hoặc chuyên gia lấy máu) sẽ sát trùng khu vực cánh tay và tìm tĩnh mạch. Một cây kim nhỏ sẽ được đâm vào tĩnh mạch để hút lượng máu nhỏ vào ống nghiệm. Khi đã lấy đủ máu, kim sẽ được rút ra, bông gòn được dùng để cầm máu và dán băng cá nhân. Kết quả xét nghiệm lấy máu tĩnh mạch thường sẽ có trong 1-2 ngày và có độ chính xác cao hơn so với lấy máu mao mạch.
Lấy máu mao mạch (chích đầu ngón tay): Nhân viên y tế sẽ sát trùng đầu ngón tay của bạn, dùng thiết bị có kim nhỏ (lancet) chích lấy 1 giọt máu. Giọt máu này sẽ được nhỏ vào que thử có gắn với máy đo đường huyết. Bạn sẽ nhận được kết quả chỉ số glucose trong xét nghiệm máu, được hiển thị trên máy chỉ trong vòng vài giây.

Bạn nên tham khảo ý kiến của bác sĩ khi xem kết quả glucose trong xét nghiệm máu, dưới đây là bảng tham khảo các chỉ số phổ biến ở người bình thường và người có nguy cơ (áp dụng đối với xét nghiệm glucose máu lúc đói), cụ thể:
|
Trạng thái |
Chỉ số glucose lúc đói (mmol/L) |
Chỉ số glucose lúc đói (mg/dL) |
Ý nghĩa y khoa |
|
Bình thường |
3,9 – 5,5 mmol/L |
70 – 99 mg/dL |
Lượng đường trong máu nằm ở mức khỏe mạnh (với người không mắc bệnh đái tháo đường). |
|
Tiền đái tháo đường |
5,6 – 6,9 mmol/L |
100 – 125 mg/dL |
Có mức đường huyết cao hơn bình thường, người bệnh có đến 50% nguy cơ tiến triển thành đái tháo đường type 2 trong 5 – 10 năm tới (có thể can thiệp cải thiện). |
|
Đái tháo đường |
7,0 mmol/L trở lên |
126 mg/dL trở lên |
Người bệnh có khả năng cao mắc bệnh đái tháo đường (chỉ số này cần được ghi nhận cao hơn mức này ở nhiều hơn 1 lần xét nghiệm để bác sĩ đưa ra chẩn đoán chính thức). |
Toàn bộ kết quả xét nghiệm tại Trung tâm Xét nghiệm, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh được thực hiện và kiểm soát chặt chẽ, nghiêm ngặt bởi hệ thống kiểm soát chất lượng nội bộ theo mẫu tiêu chuẩn của các quốc gia có nền y học phát triển mạnh.
Trung tâm được đầu tư xây dựng khang trang, bố trí hệ thống trang thiết bị hiện đại và đồng bộ, đạt tiêu chuẩn An toàn sinh học cấp 2. Đồng thời, các dịch vụ xét nghiệm được thực hiện bằng hệ thống trang thiết bị, máy móc hiện đại nhất thế giới như:
Bộ phận Huyết học – Truyền máu: Hệ thống máy Sysmex XN1000, Sysmex cs-1600.
Bộ phận Hóa sinh – Miễn dịch: Hệ thống máy Roche Cobas 6000; hệ thống máy nước tiểu Roche Cobas u701, u601, u411; máy khí máu Roche Cobas b211; hệ thống quản lý phòng xét nghiệm Cobas Infinity.
Bộ phận Vi sinh – Ký sinh trùng: Máy cấy máu, máy định danh – kháng sinh đồ tự động Vitek II Compact, máy nhuộm Gram.
Bộ phận Sinh học phân tử: Máy tách chiết, máy PCR…
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Hiểu rõ glucose trong xét nghiệm máu là gì giúp chúng ta có thể tự chủ động trong việc đánh giá, theo dõi các chỉ số đường huyết và nhận biết sớm những bất thường liên quan đến chuyển hóa glucose. Khi có chỉ định xét nghiệm hoặc kết quả đường huyết bất thường, người bệnh nên trao đổi với bác sĩ để được đánh giá chính xác và hướng dẫn theo dõi, điều trị phù hợp.