Loét động mạch chủ xuyên thấu (PAU) là tổn thương loét do xơ vữa, xuyên qua lớp nội mạc và khoét sâu vào lớp trung mạc của thành động mạch chủ. Bệnh chỉ chiếm tỉ lệ nhỏ trong các trường hợp hội chứng động mạch chủ cấp và hầu như chỉ gặp ở người đã có xơ vữa động mạch nặng. Nếu không được xử trí kịp thời, ổ loét có thể tiến triển thành bóc tách, phình hoặc vỡ động mạch chủ, đe dọa trực tiếp tính mạng người bệnh.
Loét động mạch chủ xuyên thấu (PAU) là gì?
Loét động mạch chủ xuyên thấu (Penetrating Aortic Ulcer – PAU), hay còn gọi là loét xuyên thành động mạch chủ, là tình trạng tổn thương loét do xơ vữa động mạch xuyên qua lớp nội mạc và màng đàn hồi trong, xâm nhập vào lớp trung mạc của động mạch chủ. Vết loét tiếp tục khoét sâu và xâm nhập vào lớp cơ ở giữa (lớp trung mạc) của mạch máu. Tình trạng loét thường xảy ra trên nền những mảng xơ vữa bị bong tróc hoặc nứt vỡ lâu ngày.
Dựa trên một số nghiên cứu, loét xuyên thành động mạch chủ có nguy cơ tiến triển cao hơn nếu ổ loét có độ sâu >10 mm và chiều rộng >20 mm. Độ sâu của vết loét là khoảng cách xuyên qua lớp nội mạc, chiều rộng là kích thước vuông góc tối đa của vết loét bên trong thành mạch. Đường kính động mạch chủ tăng lên ở vị trí vết loét là dấu hiệu dự báo điều trị nội khoa không đáp ứng.
Loét xuyên thành động mạch chủ là tổn thương cấu trúc nghiêm trọng, suy giảm độ bền vững và tính toàn vẹn của thành mạch. Nếu không được kiểm soát tốt, ổ loét có thể tiến triển thành bóc tách động mạch chủ, phình động mạch chủ hoặc vỡ động mạch chủ, đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh.
Hình ảnh minh họa đoạn động mạch chủ có vết loét xuyên thấu
Phân loại loét động mạch chủ xuyên thấu
Dựa trên vị trí tổn thương dọc theo chiều dài của lòng mạch, loét xuyên thành động mạch chủ được phân thành 3 nhóm chính:
PAU đoạn động mạch chủ lên: Tổn thương xuất hiện ở đoạn mạch chịu áp lực dòng máu lớn nhất ngay sau khi tim co bóp tống máu ra ngoài. Vị trí này cực kỳ nguy hiểm do ổ loét nằm gần tim, dễ tiến triển nhanh và cần can thiệp ngoại khoa cấp cứu khẩn cấp.
PAU đoạn động mạch chủ xuống: Thường gặp nhất, chiếm khoảng 62%. Ổ loét hình thành ở đoạn động mạch chủ ngực nằm phía sau tim và kéo dài xuống phía cơ hoành.
PAU đoạn động mạch chủ bụng: Tổn thương khu trú ở đoạn mạch máu chính nuôi dưỡng các cơ quan nội tạng trong ổ bụng và chi dưới. Loét động mạch chủ xuyên thấu tại vị trí này thường diễn tiến âm thầm, liên quan đến tình trạng xơ vữa động mạch hệ thống nghiêm trọng ở người cao tuổi.
Ngoài ra trên phương diện điều trị, loét xuyên thành động mạch chủ còn phân thành các nhóm: không triệu chứng, có triệu chứng, phức tạp hoặc không phức tạp.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ gây bệnh
Khác với bóc tách động mạch chủ – một biểu hiện khác của hội chứng động mạch chủ cấp – nguyên nhân chính gây ra các ổ loét trong lòng động chủ là do quá trình xơ vữa động mạch tiến triển nặng và do đó PAU hầu như chỉ gặp ở những bệnh nhân đã có xơ vữa nặng trước đó. Các mảng bám chứa cholesterol và mô xơ tích tụ lâu ngày làm thành mạch bị xơ cứng, mất đi độ đàn hồi tự nhiên rồi dần nứt vỡ, tạo điều kiện cho dòng máu áp lực cao xoáy sâu vào bên trong thành mạch máu.
Bên cạnh đó, những yếu tố nguy cơ gây bệnh thường gặp gồm:
Tăng huyết áp mãn tính.
Tuổi cao.
Hút thuốc lá.
Rối loạn lipid máu.
Tiền sử mắc bệnh mạch vành hoặc bệnh động mạch ngoại biên.
Xơ vữa động mạch là nguyên nhân chính gây loét động mạch chủ
Triệu chứng nhận biết loét động mạch chủ xuyên thấu
Triệu chứng của loét động mạch chủ xuyên thấu có thể tương tự với biểu hiện của các bệnh tim mạch khác. Vì vậy, người bệnh cần hết sức chú ý, cần cấp cứu ngay nếu xuất hiện các dấu hiệu điển hình:
Đau ngực hoặc đau lưng đột ngột, dữ dội, đau như xé hoặc lan sau lưng.
Huyết áp đột ngột tăng cao khi cơn đau khởi phát.
Khó thở, vã mồ hôi.
Choáng váng, ngất xỉu.
Khàn tiếng hoặc nuốt khó.
Loét động mạch chủ xuyên thấu có nguy hiểm không?
Loét động mạch chủ xuyên thấu là tình trạng nguy hiểm, có thể dẫn đến nhiều biến chứng cấp tính đe dọa trực tiếp đến tính mạng người bệnh nếu không được điều trị kịp thời như: (1)
Tụ máu trong thành động mạch chủ (IMH): Dòng máu áp lực cao xuyên qua ổ loét và phá vỡ các mạch máu nhỏ nuôi thành mạch, gây xuất huyết nội tại bên trong lớp trung mạc. Khối máu tụ này làm bóc tách các lớp cấu trúc và có thể lan rộng dọc theo chiều dài của động mạch chủ, làm suy yếu khả năng chịu lực của mạch máu và làm tăng áp lực lên toàn bộ thành mạch lân cận.
Bóc tách động mạch chủ và phình động mạch: Vết loét xuyên thấu sâu có thể tạo ra đường rách lớn, khiến dòng máu tách đôi thành mạch tạo nên lòng giả. Vùng thành mạch bị mỏng đi do loét sẽ dần giãn rộng ra dưới áp lực máu liên tục tạo thành các túi phình.
Vỡ động mạch chủ xuyên thành: Đây là biến chứng nguy hiểm nhất, ổ loét hoặc túi phình ăn mòn hoàn toàn qua lớp màng ngoài của mạch máu, gây xuất huyết ồ ạt vào khoang ngực hoặc khoang bụng. Bệnh nhân có nguy cơ tử vong cực kỳ cao.
Nhiễm trùng và thuyên tắc mạch: Là biến chứng không điển hình tuy nhiên một số trường hợp vi khuẩn có thể bám dính gây viêm/nhiễm trùng trực tiếp tại ổ loét thành mạch chủ. Các mảnh vỡ từ ổ loét xơ vữa có thể bong ra, trôi theo dòng máu gây tắc nghẽn các nhánh mạch nuôi ruột, thận hoặc chi dưới. Hậu quả là dẫn đến hoại tử mô, suy đa tạng do thiếu máu nuôi dưỡng cục bộ.
Biến chứng phình, dọa vỡ động mạch chủ do loét
Chẩn đoán loét xuyên thành động mạch chủ
Sau khi thăm khám lâm sàng và đánh giá tổng quan, bác sĩ sẽ có chỉ định các cận lâm sàng giúp xác định vị trí và mức độ tổn thương:
Chụp cắt lớp vi tính mạch máu (CTA): Giúp tái tạo hình ảnh ba chiều rõ nét của toàn bộ hệ thống động mạch chủ, cho phép xác định chính xác vị trí, kích thước, độ sâu của ổ loét và phát hiện sớm các khối máu tụ đi kèm.
Siêu âm tim qua thực quản (TEE): Đầu dò của siêu âm tim qua đường thực quản được gắn vào một ống mỏng đi qua miệng, xuống cổ họng và vào thực quản của người bệnh, giúp thu được hình ảnh rõ nét hơn về động mạch chủ lên, các buồng tim trên và các van tim so với siêu âm tim qua thành ngực.
Chụp cộng hưởng từ (MRI): Cung cấp các thông tin chi tiết về cấu trúc thành mạch mà không cần sử dụng tia X hay thuốc cản quang chứa i-ốt. Đây là giải pháp thay thế tối ưu cho bệnh nhân có tiền sử suy thận nặng hoặc dị ứng với thuốc cản quang.
Chụp CT giúp đánh giá, chẩn đoán chính xác tình trạng loét động mạch chủ xuyên thấu
Điều trị loét động mạch chủ xuyên thấu
Chiến lược điều trị loét động mạch chủ xuyên thấu phụ thuộc vào vị trí của tổn thương, kích thước ổ loét và các triệu chứng người bệnh gặp phải.
1. Điều trị nội khoa
Áp dụng chủ yếu đối với các ổ loét nhỏ, không triệu chứng ở đoạn động mạch chủ xuống hoặc động mạch chủ bụng. Các loại thuốc có thể được chỉ định như:
Nhóm thuốc chẹn beta: Giúp kiểm soát huyết áp và nhịp tim (mục tiêu nhịp tim 50-60 lần/phút, huyết áp tâm thu 100-120 mmHg).
Thuốc hạ mỡ máu liều cao (như statin): Giúp ổn định mảng xơ vữa.
Thuốc giảm đau: Giúp giảm đau, giảm căng thẳng.
Bệnh nhân cần được chụp CT để kiểm tra định kỳ, theo dõi tiến triển của ổ viêm loét.
2. Can thiệp và phẫu thuật
Can thiệp ngoại khoa được chỉ định hầu như cho mọi trường hợp tổn thương ở đoạn mạch lên, ổ loét tiến triển lớn, dọa vỡ hoặc gây đau ngực dữ dội không đáp ứng thuốc.
Can thiệp nội mạch đặt stent graft (TEVAR): Là lựa chọn ưu tiên nhờ tính ít xâm lấn, người bệnh ít mất máu và hồi phục nhanh.
Phẫu thuật hở truyền thống: Áp dụng cho các trường hợp bệnh phức tạp ở đoạn gần tim. Bác sĩ sẽ thay thế phần động mạch chủ bị tổn thương bằng một mảnh ghép tổng hợp.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Loét động mạch chủ xuyên thấu là bệnh lý tim mạch cấp tính diễn tiến phức tạp, nguy cơ tử vong cao nếu xảy ra biến chứng vỡ mạch. Tuy nhiên, người bệnh hoàn toàn có thể vượt qua nguy hiểm và duy trì chất lượng cuộc sống ổn định nếu kết hợp kiểm soát nội khoa hoặc can thiệp ngoại khoa đúng thời điểm.