Viêm tắc động mạch bệnh lý mạch máu nguy hiểm nhưng các triệu chứng lại dễ bị nhầm lẫn với chứng đau nhức xương khớp thông thường. Nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, viêm tắc động mạch có thể bùng phát thành các đợt cấp tính, đe dọa trực tiếp đến sự sống của các chi hoặc cơ quan nội tạng.
Viêm tắc động mạch là gì?
Viêm tắc động mạch là tình trạng mà động mạch bị viêm co thắt hoặc xơ vữa, gây rối loạn trong việc cung cấp máu và dưỡng chất cho các tổ chức và cơ quan của cơ thể. Bệnh thường diễn biến với triệu chứng đau tăng dần ở chi, thường tăng khi hoạt động và giảm khi nghỉ ngơi. Mạch đập có thể yếu và thậm chí mất hẳn trong một số trường hợp. Thời gian giữa các đợt đau thường ngày càng ngắn và kéo dài, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.
Trong trường hợp nặng, có thể dẫn đến hoại tử và suy giảm nhanh chóng, đặt ra nguy cơ cắt cụt chi và nguy cơ tử vong do sốc nhiễm trùng nhiễm độc. Viêm tắc động mạch thường xuất hiện ở nam giới, đặc biệt là người hút thuốc lá và người béo phì.
Viêm tắc động mạch thường tiến triển âm thầm nhưng có thể bùng phát thành các đợt cấp tính, đe dọa trực tiếp đến sự sống của các chi hoặc cơ quan nội tạng. Nếu không được phát hiện kịp thời, tổn thương sẽ lan rộng và chuyển sang giai đoạn hoại tử không thể đảo ngược.
Nguyên nhân gây bệnh viêm tắc động mạch
Mặc dù nguyên nhân chính xác gây bệnh viêm tắc động mạch chưa được làm rõ, nhưng các chuyên gia cho rằng, quá trình gây bệnh có thể do một số yếu tố sau:
Hút thuốc lá: Bao gồm cả hút thuốc lá chủ động và thụ động, các hóa chất trong thuốc lá có thể làm tổn thương lớp lót mạch máu, thúc đẩy bệnh tiến triển nặng hơn ở các đầu chi.
Di truyền: Bệnh viêm tắc động mạch có khuynh hướng di truyền mà không có đột biến gen gây bệnh trực tiếp.
Viêm nội mạc do tự miễn: Bệnh bản chất là quá trình viêm do miễn dịch với sự lắng đọng bất thường của các globulin và bổ thể dọc theo lớp màng đàn hồi của mạch máu.
Suy giảm chức năng giãn mạch: Lớp nội mạc ngoại vi bị suy giảm khiến mạch máu mất đi khả năng tự giãn rộng tự nhiên, trong khi các cơ chế giãn mạch độc lập khác vẫn nguyên vẹn.
Rối loạn đông máu phối hợp: Tình trạng tăng đông máu do hội chứng kháng phospholipid và sự tăng nồng độ homocysteine trong máu góp phần làm tăng cao nguy cơ hình thành các cục máu đông gây tắc nghẽn động mạch.
Hút thuốc lá làm tăng nguy cơ gây viêm tắc động mạch
Dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng cần cảnh giác
Các biểu hiện của bệnh thường xuất hiện từ từ ở các chi, dễ khiến người bệnh lầm tưởng với chứng đau nhức xương khớp thông thường. (1)
Dị cảm: Cảm giác tê bì, châm chích như có kiến bò ở đầu ngón tay, ngón chân.
Đau cách hồi: Đau thắt hoặc chuột rút ở bắp chân xuất hiện khi đi lại và biến mất nhanh chóng sau vài phút nghỉ ngơi. Khi nhu cầu oxy của cơ bắp tăng lên nhưng mạch máu bị tắc không đáp ứng đủ sẽ kích hoạt các cơn đau này. Đây cũng là biểu hiện thường gặp của bệnh động mạch chi dưới.
Thay đổi màu sắc da: Vùng da phía dưới vị trí động mạch bị tắc thường nhợt nhạt, lạnh buốt hoặc chuyển sang màu xanh tím khi buông thõng chi.
Mất mạch đập: Khó hoặc hoàn toàn không cảm nhận được mạch đập ở các vị trí quen thuộc như cổ tay, mu bàn chân hay khoeo chân.
Triệu chứng khác: Ở giai đoạn muộn, các vết loét nông tự phát xuất hiện ở đầu chi, khó lành và có xu hướng lan rộng ra xung quanh. Cơn đau liên tục cả ngày lẫn đêm, khiến người bệnh mất ngủ dai dẳng.
Người bệnh thường gặp triệu chứng tê bì, châm chích hoặc đau cách hồi ở chi
Bệnh viêm tắc động mạch có nguy hiểm không?
Viêm tắc động mạch là bệnh lý mạch máu nguy hiểm. Khi dòng máu bị chặn đứng, các mô đích sẽ nhanh chóng rơi vào trạng thái hoại tử do thiếu dưỡng chất, buộc người bệnh phải phẫu thuật đoạn chi. Nếu viêm tắc xảy ra tại các mạch máu lớn như động mạch vành hay động mạch não, người bệnh có thể bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ tái phát. Bên cạnh đó, các ổ nhiễm trùng từ vùng hoại tử có thể dẫn đến nhiễm khuẩn huyết, gây suy đa tạng cực kỳ nguy hiểm.
Phương pháp chẩn đoán viêm tắc động mạch
Đo chỉ số ABI (Ankle-Brachial Index): Tỷ lệ huyết áp cổ chân/cánh tay.
Chụp cắt lớp vi tính (CT scan).
Chụp cộng hưởng từ (MRI).
Chụp cắt lớp vi tính với máy CT hơn 100.000 lát cắt tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM giúp hỗ trợ chẩn đoán nhanh chóng, chính xác các bệnh lý mạch máu
Điều trị viêm tắc động mạch
Phương pháp điều trị tùy thuộc vào giai đoạn tiến triển của bệnh và thể trạng của người bệnh.
1. Điều trị nội khoa
Áp dụng chủ yếu cho các trường hợp bệnh ở giai đoạn khởi phát hoặc dùng phối hợp sau phẫu thuật. Một số loại thuốc thường được chỉ định gồm thuốc kháng kết tập tiểu cầu, thuốc kiểm soát mỡ máu để ngăn ngừa cục máu đông tiến triển.
2. Điều trị ngoại khoa
Khi các mảng tắc nghẽn quá lớn và điều trị nội khoa không còn phát huy tác dụng, bác sĩ sẽ chỉ định can thiệp ngoại khoa:
Nong mạch và đặt stent: Tạo hình lòng mạch bằng bóng, sau đó đặt giá đỡ stent qua da để mở rộng đoạn mạch bị tắc.
Phẫu thuật bắc cầu: Áp dụng trong trường hợp tổn thương quá phức tạp, phẫu thuật làm cầu nối động mạch bằng mạch máu nhân tạo hoặc tĩnh mạch tự thân để dẫn dòng máu đi vòng qua đoạn bị tắc.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội:
108 Phố Hoàng Như Tiếp, Phường Bồ Đề, TP. Hà Nội
(Đ/c cũ: 108 Hoàng Như Tiếp, P.Bồ Đề, Q.Long Biên, TP. Hà Nội)
Viêm tắc động mạch là bệnh lý tim mạch có thể gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm nếu không được kiểm soát tốt từ sớm. Vì vậy, mỗi người cần chủ động nhận biết sớm các dấu hiệu cảnh báo và tuân thủ phác đồ điều trị. Đồng thời, duy trì lối sống khoa học, bỏ thuốc lá và chủ động tầm soát định kỳ giúp phát hiện sớm, điều trị kịp thời.
Cập nhật lần cuối: 10:15 07/10/2026
Chia sẻ:
Nguồn tham khảo
Arkkila, P. E. T. (2006, April 27). Thromboangiitis obliterans (Buerger’s disease). Orphanet Journal of Rare Diseases; PubMed Central. https://doi.org/10.1186/1750-1172-1-14