
Với tỷ lệ tử vong được ghi nhận từ 25-90%, virus Ebola là tác nhân truyền nhiễm nguy hiểm, từng gây ra các đợt dịch tại nhiều quốc gia Châu Phi. Do khả năng lây truyền qua tiếp xúc trực tiếp với máu và dịch cơ thể của người nhiễm bệnh, Ebola được xếp vào nhóm bệnh cần giám sát đặc biệt. Nhận biết sớm dấu hiệu bệnh và các yếu tố nguy cơ phơi nhiễm giúp chủ động phòng ngừa và xử trí kịp thời khi cần.

Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cảnh báo dịch bệnh tiếp tục diễn biến phức tạp tại Châu Phi. Tính đến ngày 25/05/2026, Cộng hòa Dân chủ Congo đã ghi nhận hơn 900 trường hợp nghi nhiễm và 220 trường hợp tử vong nghi do virus Ebola. Nước láng giềng, Uganda, đã xác nhận 5 trường hợp mắc bệnh và 1 ca tử vong.
Đặc biệt, đợt dịch lần này được cho là có liên quan đến loài Bundibugyo virus. Hiện chưa có vắc xin hoặc thuốc điều trị được phê duyệt chính thức cho virus này.
Đến ngày 26/05/2026, Việt Nam chưa ghi nhận trường hợp mắc bệnh do virus Ebola. Tuy nhiên, Bộ Y tế đã phát đi cảnh báo và sẵn sàng ứng phó kịp thời.
Virus Ebola (tên gọi mới là Orthoebolavirus) là một chi thuộc họ Filoviridae, tập hợp các loài virus nguy hiểm gây tổn thương đa cơ quan, xuất huyết nghiêm trọng, nguy cơ tử vong cao nếu không được điều trị tích cực.
Các virus thuộc chi Orthoebolavirus được phát hiện lần đầu vào năm 1976 trong hai đợt bùng phát gần như đồng thời tại Nam Sudan và Cộng hòa Dân chủ Congo. Đợt dịch tại Congo xảy ra gần sông Ebola nên virus được đặt tên theo khu vực này.
Từ năm 1979 đến năm 1994, không có trường hợp mắc bệnh ở người hoặc ổ dịch nào được ghi nhận. Tuy nhiên, kể từ năm 1994, các ổ dịch được ghi nhận ngày càng thường xuyên hơn.
Năm 2014, một đợt bùng phát dịch Ebola được báo cáo ở Tây Phi, liên quan đến các quốc gia Guinea, Liberia và Sierra Leone. Đợt dịch kéo dài đến tháng 6/2016 với hơn 28.600 người nhiễm bệnh và 11.325 người tử vong. Đây cũng là đợt dịch lớn nhất kể từ khi virus này được phát hiện lần đầu vào năm 1976.

Bệnh do các chủng virus Ebola gây ra cực kỳ nguy hiểm với tỷ lệ tử vong trung bình khoảng 50%, thậm chí có đợt dịch ghi nhận tỷ lệ tử vong lên đến 90%. Virus gây tổn thương nghiêm trọng đến hệ miễn dịch, gan, thận, mạch máu và cơ chế đông máu của cơ thể. Người bệnh có thể tử vong do sốc, xuất huyết nặng hoặc suy đa cơ quan.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mức độ nguy hiểm của bệnh thay đổi tùy từng loài virus và khả năng đáp ứng y tế của khu vực xảy ra dịch. Trong đó, loài Ebola virus (EBOV) được ghi nhận có tỷ lệ tử vong cao nhất, dao động từ 60-90%. Ngoài ra, người sống sót sau nhiễm bệnh có nguy cơ đối mặt với các biến chứng kéo dài liên quan đến xương khớp, thần kinh, thính giác và thị giác.
Hiện nay, 6 loài thuộc chi Ebolavirus (Orthoebolavirus) đã được ghi nhận, bao gồm: (1)
Ebola virus (EBOV) là loài nguy hiểm nhất, gây bệnh Ebola virus disease (EVD) với tỷ lệ tử vong rất cao, dao động từ 60-90%. Đây là nguyên nhân chính gây ra dịch bệnh năm 2014-2026 ở Tây Phi. Cho đến nay, đây là loài duy nhất trong chi Orthoebolavirus có vắc xin phòng bệnh.
Sudan virus (SUDV) là tác nhân gây bệnh Sudan virus disease (SVD), được phát hiện lần đầu vào năm 1976. Bệnh do loài này gây ra có tỷ lệ tử vong nằm trong khoảng 41-70%, có trường hợp ghi nhận tỷ lệ tử vong 100%. Hiện chưa có vắc xin được phê duyệt chính thức để phòng bệnh do Sudan virus, khiến các đợt bùng phát liên quan đến virus này vẫn là mối đe dọa lớn với hệ thống y tế tại các quốc gia Châu Phi.
Bundibugyo virus (BDBV) là tác nhân gây bệnh Bundibugyo virus disease (BVD), được phát hiện trong đợt bùng phát tại Uganda năm 2007. So với các loài khác, tỷ lệ tử vong của Bundibugyo virus thấp hơn, khoảng 30-50%.
Taï Forest virus (TAFV) được phát hiện vào năm 1994 sau một trường hợp nhiễm bệnh tại Bờ Biển Ngà do tiếp xúc với tinh tinh nhiễm virus trong rừng Taï. Cho đến nay, chỉ ghi nhận rất ít trường hợp nhiễm bệnh liên quan đến virus này.
Reston virus (RESTV) chủ yếu được ghi nhận tại Đông Nam Á, từng gây bệnh trên trên khỉ macaque và lợn. Mặc dù một số người được xác nhận dương tính với Reston virus nhưng không xuất hiện bất kỳ dấu hiệu lâm sàng hay biểu hiện bệnh lý nào. Các nghiên cứu vẫn đang được thực hiện xem xét khả năng gây bệnh cho người của virus này.

Bombali virus (BOMV) là loài virus của chi Orthoebolavirus mới được phát hiện vào năm 2018 tại Sierra Leone. Virus được tìm thấy trong cơ thể và chất thải của các loài dơi bản địa Châu Phi. Hiện chưa ghi nhận trường hợp bệnh lý rõ ràng ở người do Bombali virus gây ra.
Ebolavirus lây nhiễm chủ yếu qua tiếp xúc trực tiếp với dịch cơ thể, máu, mô của động vật và người nhiễm bệnh. Khả năng lây lan mạnh trong môi trường chăm sóc y tế, cộng đồng và nghi thức mai táng khiến bệnh dễ bùng phát thành dịch khi không được kiểm soát kịp thời.
Các nghiên cứu cho thấy ổ chứa tự nhiên của virus Ebola nhiều khả năng là dơi ăn quả thuộc họ Pteropodidae. Virus có thể lây sang người thông qua tiếp xúc với máu, mô hoặc dịch cơ thể của động vật nhiễm bệnh như dơi ăn quả, tinh tinh, khỉ đột, linh dương rừng, nhím.
Nguy cơ lây nhiễm thường xuất hiện khi con người săn bắt, giết mổ hoặc chế biến động vật hoang dã tại các khu vực rừng nhiệt đới Châu Phi. Ngoài ra, tiếp xúc với xác động vật chết bất thường trong rừng cũng có thể làm virus xâm nhập vào cơ thể qua các vết thương hở trên da.
Ebolavirus có thể lây từ người sang người thông qua các con đường sau:
Các yếu tố nguy cơ làm tăng khả năng nhiễm virus Ebola bao gồm:

Một hiểu lầm phổ biến cho rằng Ebola có thể lây qua không khí, nhưng theo y văn, virus Ebola không lây qua không khí, nước uống hoặc thực phẩm thông thường. Việc hiểu đúng cơ chế lây truyền giúp phòng bệnh hiệu quả hơn, đồng thời hạn chế tâm lý sợ hãi và thông tin sai lệch trong cộng đồng.
Ebolavirus đặc biệt khó kiểm soát khi bùng phát dịch do bệnh diễn tiến nhanh, tỷ lệ tử vong cao và triệu chứng ban đầu dễ nhầm lẫn với bệnh truyền nhiễm khác. Ngoài ra, điều kiện y tế hạn chế, thiếu phương tiện bảo hộ và tập quán mai táng truyền thống tại một số khu vực có thể khiến virus dễ lan rộng trong cộng đồng và cơ sở điều trị.
Triệu chứng ở người nhiễm virus Ebola có thể diễn tiến nhanh từ biểu hiện giống cúm sang tổn thương đa cơ quan và xuất huyết nặng nếu không được điều trị kịp thời.
Thời gian ủ bệnh sau khi nhiễm Ebolavirus kéo dài từ 2-21 ngày. Trong giai đoạn này, người nhiễm chưa có dấu hiệu và chưa có khả năng lây bệnh cho người khác. Thời gian ủ bệnh có thể khác nhau tùy lượng virus xâm nhập, đường lây truyền và tình trạng miễn dịch của từng người.
Giai đoạn khởi phát xuất hiện đột ngột sau giai đoạn ủ bệnh với các biểu hiện điển hình sau:

Khi bệnh tiến triển nặng, người bệnh có thể xuất hiện các dấu hiệu sau:
TS.BS Lê Xuân Luật, Khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội cho biết, những người sốt cao kèm đau đầu dữ dội, tiêu chảy, đau cơ hoặc xuất huyết bất thường sau khi đi từ vùng dịch về hoặc từng tiếp xúc với ca bệnh Ebola cần được cách ly và theo dõi y tế sát sao để hạn chế nguy cơ lây nhiễm, cải thiện tiên lượng điều trị.
Việc chẩn đoán nhiễm Ebolavirus cần kết hợp thăm khám lâm sàng, yếu tố dịch tễ và xét nghiệm chuyên sâu trong điều kiện an toàn sinh học nghiêm ngặt:
Điều trị các trường hợp nhiễm virus Ebola tập trung vào hồi sức tích cực, chăm sóc hỗ trợ toàn diện và sử dụng thuốc kháng thể đơn dòng theo chỉ định:
Việc điều trị Ebola hỗ trợ người bệnh bao gồm:
Hiện đã có thuốc điều trị đặc hiệu như ansuvimab và phối hợp REGN-EB3 (Inmazeb) được WHO khuyến nghị cho bệnh EVD (do loài Ebola virus gây ra). Các thuốc này đều là kháng thể đơn dòng có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch nhận diện và trung hòa virus. Các loài khác trong chi Orthoebolavirus chưa có thuốc điều trị đặc hiệu được phê duyệt chính thức.
Việc sử dụng thuốc cần được đánh giá nghiêm ngặt dựa trên tình trạng lâm sàng, thời điểm phát hiện bệnh và khả năng đáp ứng điều trị của từng bệnh nhân.

Hai biện pháp phòng ngừa Ebolavirus được khuyến nghị bao gồm:
Vắc xin là biện pháp dự phòng hiệu quả, giúp phòng bệnh EVD do loài Ebola virus gây ra. Hiện có hai loại vắc xin đã được phê duyệt bao gồm Ervebo và phác đồ Zabdeno kết hợp Mvabea. Trong các đợt bùng phát dịch, vắc xin Ervebo có thể được ưu tiên sử dụng cho nhân viên y tế, người tiếp xúc gần và cộng đồng có nguy cơ cao.
Nhiều nghiên cứu vẫn đang tiếp tục được triển khai để phát triển các vắc xin với các loài virus khác trong chi Orthoebolavirus như Sudan virus hay Bundibugyo virus.
Mỗi cá nhân cần chủ động phòng ngừa Ebola để giảm nguy cơ nhiễm bệnh và hạn chế lây lan trong cộng đồng:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Như vậy, các virus Ebola (Orthoebolavirus) có thể gây tổn thương đa cơ quan, xuất huyết với tỷ lệ tử vong cao nếu không được theo dõi, điều trị kịp thời. Khi xuất hiện triệu chứng nghi ngờ hoặc có tiền sử tiếp xúc dịch tễ, người bệnh cần được đánh giá sớm tại cơ sở có khả năng chẩn đoán và quản lý bệnh truyền nhiễm. Tại Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, người bệnh được thăm khám với chuyên gia giàu kinh nghiệm, kết hợp hệ thống xét nghiệm hiện đại và quy trình kiểm soát nhiễm khuẩn nghiêm ngặt, giúp chẩn đoán chính xác, điều trị hiệu quả, hạn chế nguy cơ biến chứng.