Thường xuyên mệt kèm khó thở, phù toàn thân, anh Phát, 56 tuổi, được phát hiện suy tim, gan, thận, tràn dịch đa màng do biến chứng hở van hai lá.
Anh Phát khám sức khỏe hai năm trước thì phát hiện đứt dây chằng van tim do thoái hóa, có chỉ định phẫu thuật sửa van. Lúc đó anh không có triệu chứng rõ rệt nên nghĩ bệnh chưa nghiêm trọng, mong muốn điều trị nội khoa. Bác sĩ kê toa thuốc cho anh đều đặn, anh cũng tuân thủ tái khám định kỳ.
Gần đây, anh Phát giảm khả năng gắng sức, thường xuyên hụt hơi, mệt mỏi, khó thở dù vẫn uống thuốc đúng chỉ dẫn. Toàn thân anh phù, “cảm giác như quả bóng chỉ chực chờ nổ tung”, anh chia sẻ, khiến cân nặng từ 75 kg tăng lên 92 kg. Anh đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM khám.
ThS.BS.CKII Huỳnh Hoàng Khang, Trưởng khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, cho biết bệnh nhân bị hở van hai lá nặng do đứt dây chằng đã lâu nhưng không phẫu thuật. Kết quả siêu âm tim và ổ bụng ghi nhận anh tăng áp phổi nặng, suy tim toàn bộ, suy gan và thận, tràn dịch đa màng, SpO2 (nồng độ oxy trong máu) giảm còn 92%, trong khi bình thường trên 95%.
“Tình trạng suy tim kéo dài làm tăng áp lực trong hệ tuần hoàn, gây ứ dịch ở nhiều khoang cơ thể như màng phổi, màng tim và ổ bụng, đồng thời ảnh hưởng chức năng gan và các cơ quan khác. Đây là nguyên nhân khiến người bệnh phù toàn thân, khó thở, hụt hơi, kiệt sức”, bác sĩ Khang cho biết.

Van hai lá nối giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái, đóng mở nhịp nhàng để đưa máu đi theo một chiều từ nhĩ trái xuống thất trái. Hở van hai lá xảy ra khi van không đóng khít hoàn toàn, khiến một lượng máu chảy ngược từ tâm thất về tâm nhĩ trái trong thì tâm thu. Bệnh nếu không được điều trị thích hợp sẽ gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm như suy tim, rung nhĩ, tăng áp phổi, thậm chí đe dọa tính mạng.
Có nhiều nguyên nhân gây hở van hai lá gồm bệnh lý lá van (di chứng thấp tim, thoái hóa nhầy, thoái hóa xơ vữa, viêm nội tâm mạc nhiễm khuẩn…), bệnh lý vòng van hai lá (giãn vòng van, vôi hóa vòng van, thoái hóa), bệnh lý dây chằng (đứt, dày, dính, vôi hóa dây chằng), bệnh lý cột cơ (nhồi máu cơ tim gây đứt cột cơ nhú, rối loạn hoạt động cơ nhú, thiếu máu cơ tim, bệnh lý thâm nhiễm cơ tim như amyloid, sarcoid), bẩm sinh. Trường hợp anh Phát, dây chằng van tim bị đứt do thoái hóa, van không được sửa chữa kịp thời nên lâu ngày tiến triển thành bệnh lý hở van hai lá nặng.
Anh Phát được điều trị tích cực tình trạng tràn dịch đa màng bằng phương pháp chọc hút dẫn lưu dịch màng phổi, giúp phổi giãn nở trở lại và giảm áp lực cho tim. Bác sĩ cũng kê toa lợi tiểu nhằm đào thải dịch, thuốc hỗ trợ chức năng tim, gan. Sau một tuần triệu chứng cải thiện, SpO2 tăng lên 96%, ê kíp tiến hành ca phẫu thuật cho anh Phát.
Bác sĩ Khang nhận định, tổn thương van và các tổ chức dưới van của bệnh nhân có thể sửa chữa được, chưa cần thay van tim. Trong hơn 4 giờ, ê kíp tạo dây chằng nhân tạo để thay thế dây chằng bị đứt, giúp phục hồi vị trí và khả năng đóng kín của lá van. Tiếp đến, bác sĩ đặt vòng van nhân tạo nhằm tái tạo hình dạng và kích thước vòng van, ngăn máu chảy ngược trở lại. Bác sĩ áp dụng kỹ thuật gây tê mặt phẳng cơ dựng sống (ESP) giúp giảm đau, hạn chế dùng morphin sau mổ.
Một ngày sau phẫu thuật, anh Phát được rút nội khí quản, rời phòng hồi sức, không còn khó thở, giảm phù. Điều trị nội khoa thêm một tuần, chức năng tim của anh cải thiện lên 48%, chức năng gan và thận tăng rõ rệt, cân nặng về mức 75 kg và được xuất viện.

Bác sĩ Khang khuyến cáo, khi phát hiện hở van hai lá, người bệnh cần được đánh giá định kỳ về mức độ hở van, triệu chứng, kích thước và chức năng tim. Với hở van hai lá nặng do thoái hóa có chỉ định can thiệp, đặc biệt khi đã xuất hiện triệu chứng (khó thở, đau ngực, mệt mỏi, phù, tim đập nhanh), giảm chức năng thất trái, rung nhĩ hoặc tăng áp phổi, người bệnh không nên trì hoãn phẫu thuật. Can thiệp ở giai đoạn muộn, khi suy tim và tổn thương các cơ quan đã tiến triển, có thể làm tăng nguy cơ phẫu thuật cũng như hạn chế khả năng hồi phục sau mổ.
* Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH