Ông Minh, 63 tuổi, bị tắc hẹp ba nhánh mạch máu nuôi tim kèm túi phình động mạch chủ dọa vỡ, các bác sĩ phải hội chẩn nhiều lần để tìm phương án điều trị tối ưu.
Ông Minh mắc bệnh mạch vành, từng đặt 2 stent ở động mạch liên thất trước và 1 stent động mạch mũ cách đây 10 năm. Sau can thiệp, ông vẫn tái khám và dùng thuốc theo hướng dẫn, song không bỏ được thói quen hút thuốc lá. Ông còn mắc đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu.
Một tháng nay, ông Minh thường xuyên mệt, xuất hiện những cơn đau ngực thoáng qua và khó thở khi gắng sức. Kết quả chụp mạch vành tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho thấy bệnh mạch vành đã tiến triển nặng. Stent ở nhánh liên thất trước tắc hoàn toàn, động mạch mũ hẹp nặng trong stent, động mạch vành phải cũng tắc toàn bộ. Cơ tim phải nhận máu qua các nhánh tuần hoàn bàng hệ.
ThS.BS.CKII Huỳnh Hoàng Khang, Trưởng khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, cho biết hệ thống mạch máu chính nuôi tim của bệnh nhân bị tổn thương nghiêm trọng, nguy cơ suy tim cấp, nhồi máu cơ tim, đột tử nếu không can thiệp sớm.
Do nhiều đoạn mạch bị tắc, việc đặt stent không còn phù hợp, các bác sĩ hội chẩn quyết định phẫu thuật bắc cầu mạch vành. Tuy nhiên khi đánh giá hình ảnh trước mổ, ê kíp phát hiện thêm một túi phình động mạch chủ bụng đường kính 68 mm (bình thường chỉ khoảng 20 mm).
Phình động mạch chủ bụng là tình trạng thành động mạch này trở nên yếu đi và giãn lớn bất thường, tạo thành một túi chứa đầy máu. Túi phình càng lớn, nguy cơ vỡ càng tăng. Theo bác sĩ Khang, kích thước túi phình từ 55 mm trở lên cần can thiệp để tránh nguy cơ vỡ, gây xuất huyết ồ ạt vào ổ bụng, tụt huyết áp, bệnh nhân có thể tử vong nếu không được cấp cứu kịp thời.
Với ông Minh, hai tổn thương đều cần được xử lý nhưng thứ tự can thiệp không đơn giản. Nếu xử lý túi phình trước, bệnh nhân phải trải qua một thủ thuật lớn trong khi hệ mạch vành đang tắc nghẽn nặng. Những thay đổi về huyết áp, nhịp tim và tuần hoàn có thể khiến cơ tim thiếu máu, tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim, rối loạn nhịp hoặc suy tim. Ngược lại, nếu phẫu thuật bắc cầu mạch vành trước, ê kíp phải kiểm soát chặt huyết áp và huyết động trong suốt cuộc mổ để hạn chế tác động lên thành túi phình.
Các bác sĩ ngoại tim mạch, tim mạch can thiệp, phẫu thuật mạch máu, gây mê hồi sức và chẩn đoán hình ảnh nhiều lần hội chẩn, đánh giá nguy cơ của từng phương án. Cuối cùng, ê kíp quyết định phẫu thuật bắc cầu mạch vành trước nhằm cải thiện dòng máu nuôi tim, trước khi xử lý túi phình ở giai đoạn tiếp theo.
Để hạn chế những biến động huyết động, ê kíp chọn phương pháp mổ bắc cầu mạch vành không sử dụng tuần hoàn ngoài cơ thể (off-pump), thực hiện các cầu nối ngay khi tim vẫn đập. Theo bác sĩ Khang, điều này giúp tránh được sự tiếp xúc giữa máu với hệ thống tuần hoàn nhân tạo, đồng thời giảm viêm, rối loạn đông máu và biến động dịch sau mổ. Ở những bệnh nhân nguy cơ cao như ông Minh, phương pháp này còn góp phần hạn chế mất máu, truyền máu và các biến chứng hậu phẫu như nhiễm trùng, viêm phổi, suy hô hấp.

Thách thức đặt ra là phẫu thuật viên phải nâng và xoay tim để tiếp cận từng nhánh mạch vành, trong khi mỗi thay đổi tư thế có thể làm huyết áp và cung lượng tim giảm. Bác sĩ phải vừa khâu các cầu nối trên những mạch máu chỉ vài milimet liên tục chuyển động theo từng nhịp tim, vừa phối hợp với ê kíp gây mê duy trì huyết động ổn định. Đặc biệt, ê kíp phải kiểm soát chặt chẽ huyết áp của người bệnh để tránh nguy cơ vỡ túi phình động mạch chủ.
Sau hơn 5 giờ, ê kíp tạo thành công ba cầu nối mạch vành, không tác động đến túi phình. Ông Minh hồi phục thuận lợi, tình trạng đau ngực cải thiện, huyết động ổn định và xuất viện sau một tuần.

Dự kiến sau khi sức khỏe ông Minh ổn định, bác sĩ sẽ đánh giá lại tình trạng túi phình và lựa chọn phương án xử lý phù hợp, có thể đặt stent graft hoặc phẫu thuật.
Bác sĩ Khang khuyến cáo bệnh nhân đã đặt stent mạch vành vẫn cần kiểm soát các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn lipid máu và hút thuốc lá. Stent chỉ giúp mở rộng đoạn mạch bị hẹp nhưng không loại bỏ quá trình xơ vữa động mạch. Bệnh vẫn có thể tiến triển ở vị trí khác hoặc tái hẹp, tắc trong stent nhiều năm sau đó.
Với những bệnh nhân mắc cùng lúc nhiều bệnh lý tim mạch phức tạp, việc đánh giá toàn diện và phối hợp giữa các chuyên khoa giúp bác sĩ lựa chọn phương án can thiệp phù hợp, giảm nguy cơ rủi ro, tối ưu hiệu quả điều trị cho người bệnh.
* Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH