Từng được chỉ định phẫu thuật hở van hai lá 10 năm trước nhưng trì hoãn, ông Thức, 62 tuổi, nay xuất hiện khó thở, giảm khả năng gắng sức, bác sĩ phát hiện rung nhĩ, suy tim.
Mười năm trước, ông Thức được phát hiện hở van hai lá và có chỉ định phẫu thuật. Ông lo ngại rủi ro của một ca mổ tim nên lựa chọn điều trị nội khoa. Dù uống thuốc đều đặn và tái khám định kỳ, sức khỏe ông vẫn đi xuống. Một tháng nay ông mệt nhiều hơn, khả năng gắng sức giảm, khó thở nhất là khi nằm khiến giấc ngủ ban đêm thường xuyên gián đoạn. Ông đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM khám.
ThS.BS.CKII Huỳnh Hoàng Khang, Trưởng khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, cho biết bệnh nhân bị thoái hóa van hai lá gây sa lá sau và hở van nặng. Tình trạng quá tải thể tích lâu ngày khiến các buồng tim giãn, chức năng co bóp của tim suy giảm, đồng thời xuất hiện rung nhĩ mạn tính và suy tim độ 2-3.
“Phẫu thuật ở thời điểm này không còn là can thiệp sớm, nhưng vẫn có cơ hội phục hồi chức năng tim và hạn chế bệnh tiếp tục tiến triển. Bên cạnh sửa van, việc xử trí nguy cơ huyết khối liên quan đến rung nhĩ cũng rất quan trọng nhằm giảm nguy cơ biến cố thuyên tắc, đặc biệt là đột quỵ”, bác sĩ Khang nhận định.
Ê kíp tiến hành phẫu thuật cho người bệnh. Qua đánh giá trong mổ, tổn thương chủ yếu khu trú ở lá sau van hai lá do thoái hóa và bất thường dây chằng, trong khi phần còn lại của van tương đối tốt. Vì vậy, ê kíp ưu tiên bảo tồn van tự nhiên thay vì sử dụng van nhân tạo thay thế.
Trong hơn 4 giờ, các bác sĩ cắt bỏ phần lá van bị sa, tái tạo lá van, điều chỉnh hệ thống dây chằng, đặt vòng van nhân tạo nhằm phục hồi hình dạng, độ vững của vòng van và khả năng đóng kín của hai lá van. Đồng thời, êkíp đóng tiểu nhĩ trái – vị trí thường hình thành huyết khối ở bệnh nhân rung nhĩ – nhằm góp phần giảm nguy cơ thuyên tắc do cục máu đông.
Ông Thức được rút nội khí quản 4 giờ sau mổ. Siêu âm tim ghi nhận van hai lá hoạt động tốt, phân suất tống máu (EF) cải thiện từ 38% lên 46%. Một tuần sau, ông không còn mệt hay khó thở, đêm ngủ ngon giấc và được xuất viện.

Van hai lá nằm giữa tâm nhĩ trái và tâm thất trái, có nhiệm vụ đảm bảo dòng máu lưu thông theo một chiều từ nhĩ trái xuống thất trái. Hở van hai lá xảy ra khi van đóng không kín, khiến một phần máu từ tâm thất trái trào ngược lên tâm nhĩ trái mỗi khi tim co bóp. Nếu lượng máu trào ngược lớn và kéo dài, cả tâm nhĩ trái và tâm thất trái phải chịu tình trạng quá tải thể tích. Tim ban đầu có thể thích nghi bằng cách giãn buồng tim và tăng khả năng bơm máu, nhưng theo thời gian cơ tim có thể suy yếu, dẫn tới giảm chức năng thất trái và suy tim.
Ở những bệnh nhân hở van hai lá nặng kéo dài như ông Thức, tâm nhĩ trái thường giãn lớn và cấu trúc điện học của nhĩ bị biến đổi, tạo điều kiện xuất hiện rung nhĩ. Khi rung nhĩ, lúc này tâm nhĩ không còn co bóp đồng bộ mà hoạt động hỗn loạn, khiến nhịp tim trở nên không đều và máu dễ ứ đọng hình thành huyết khối, người bệnh có nguy cơ thuyên tắc động mạch.
Có nhiều nguyên nhân gây hở van hai lá như thoái hóa nhầy, vôi hóa van hoặc vòng van, bệnh van tim hậu thấp, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, nhồi máu cơ tim, bệnh cơ tim giãn, bệnh cơ tim phì đại hoặc các bất thường bẩm sinh. Trường hợp ông Thức thuộc nhóm hở van hai lá nguyên phát do thoái hóa, làm lá van sa về phía nhĩ trái trong thì tâm thu và gây dòng máu phụt ngược mức độ nặng.
Bác sĩ Khang cho biết, trường hợp hở van hai lá nặng có chỉ định can thiệp, phẫu thuật sửa hoặc thay van có thể giúp khôi phục chức năng van, cải thiện triệu chứng và ngăn tổn thương tim tiếp tục tiến triển. Khi cấu trúc van còn phù hợp, sửa van thường được ưu tiên vì giúp bảo tồn van tự nhiên và chức năng thất trái. Nếu người bệnh khó thở nhiều hoặc suy tim rõ rệt, cho thấy thất trái đã giãn và chức năng co bóp suy giảm kéo dài, khả năng phục hồi hoàn toàn sau sửa van có thể hạn chế.
Sau mổ, bệnh nhân cần tuân thủ điều trị và tái khám định kỳ kết hợp chế độ ăn tốt cho tim mạch, tập luyện phù hợp, giữ cân nặng hợp lý, không hút thuốc lá và hạn chế rượu bia. Người bệnh cần kiểm soát tốt các bệnh nền đi kèm như tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh mạch vành, rối loạn lipid máu… để giảm gánh nặng cho tim và duy trì kết quả điều trị lâu dài.
* Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH