Vừa phát hiện ông cụ 81 tuổi mắc ung thư phổi di căn não lên cơn khó thở đột ngột, điều dưỡng Nguyễn Thị Hồng Nhung lập tức báo động. Ekip hồi sức nhanh chóng có mặt, phối hợp hỗ trợ hô hấp, giành lại nhịp thở cho người bệnh chỉ trong 1 phút.
12 giờ khuya, lật trở cho một người bệnh, điều dưỡng Nguyễn Thị Hồng Nhung, 25 tuổi, khoa Hồi sức tích cực – Chống độc (ICU), Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở phường Tân Sơn Hoà – quận Tân Bình cũ), nhận thấy cụ ông 81 tuổi ở giường đối diện đang thở oxy dòng cao bất ngờ lên cơn khò khè, vã mồ hôi, lồng ngực ông co kéo, thở gắng sức. Tiếng báo động từ monitor vang lên, chỉ số SpO2 (độ bão hòa oxy trong máu) hiển thị 91% đang giảm dần.
Nhận thấy dấu hiệu bất thường dù chỉ số oxy chưa giảm sâu, Nhung lập tức đến bên giường, kiểm tra tình trạng bệnh nhân, điều chỉnh máy tăng mức oxy hỗ trợ và báo động: “Bệnh nhân giường 12 suy hô hấp”.
Đang theo dõi sức khỏe cho bệnh nhân phòng kế bên, bác sĩ CKI Vương Mỹ Dung, Phó khoa ICU và 2 điều dưỡng khác đẩy xe dụng cụ cấp cứu tới giường bệnh. Chỉ số SpO₂ tụt sâu thêm xuống còn 88%. Các thành viên trong ekip nhanh chóng vào vị trí. Bác sĩ Dung vừa ra y lệnh “đặt nội khí quản”, Nhung nhanh chóng chuẩn bị mặt nạ có bóng giúp thở cho bệnh nhân, tiêm thuốc giảm đau, an thần, giãn cơ theo y lệnh của bác sĩ. Một điều dưỡng dùng máy hút lượng đờm sánh đặc ra khỏi đường thở của ông cụ, người khác khởi động máy thở.
Quá trình đặt nội khí quản nhanh chóng được thực hiện thành công. SpO₂ nâng dần lên 93% rồi 97%, các chỉ số mạch, huyết áp ổn định, khí hai bên phổi thông đều trở lại. Chỉ trong khoảng 1 phút, người bệnh đã được kiểm soát hô hấp tạm thời và trong khoảng 5 phút sau đó êkip đã đặt thành công nội khí quản. Người bệnh tạm thoát cửa tử, tiếng thở phào cũng trút ra từ lồng ngực nữ điều dưỡng 25 tuổi.
Với những người làm việc tại ICU, tình huống như vậy không phải hiếm gặp. Người bệnh có thể chuyển biến nhanh chóng, từ trạng thái đang được theo dõi sang nguy kịch chỉ trong thời gian ngắn. Một dấu hiệu bất thường cần được nhận biết, đánh giá và xử trí kịp thời; mỗi thành viên trong ekip phải nắm rõ nhiệm vụ của mình để phối hợp nhịp nhàng.

Các bác sĩ, điều dưỡng, hỗ trợ chăm sóc tại khoa ICU, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM đang theo dõi tình trạng người bệnh, điều trị, chăm sóc cho khoảng 40 bệnh nhân nặng mỗi ngày. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh
Khoa ICU hiện điều trị khoảng 40 người bệnh, trong đó có những trường hợp suy hô hấp, sốc nhiễm khuẩn, suy đa cơ quan, đột quỵ nặng, ung thư giai đoạn tiến triển hoặc chấn thương nghiêm trọng. Tùy tình trạng, người bệnh có thể cần hồi sức trong vài ngày hoặc kéo dài nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng. Một số trường hợp cần hỗ trợ chức năng sống bằng máy thở, lọc máu liên tục hoặc các kỹ thuật chuyên sâu như ECMO khi có chỉ định.
Đây là nhóm người bệnh đòi hỏi theo dõi sát cả ngày lẫn đêm. Các chỉ số trên monitor giúp ekip nhận biết những thay đổi về nhịp tim, huyết áp, độ bão hòa oxy trong máu và các thông số khác tùy cấu hình. Tuy nhiên, quyết định can thiệp vẫn cần dựa trên đánh giá lâm sàng, diễn tiến bệnh và đáp ứng của từng người bệnh.
ICU được xem là “chiến tuyến cuối cùng” tại bệnh viện, cũng là “con đường sống cuối cùng” của người bệnh, khi khoa tiếp nhận điều trị hồi sức những trường hợp nguy kịch, tính mạng đang bị đe dọa trực tiếp bởi bệnh tật, chấn thương.
“Thiết bị công nghệ cao là một phần quan trọng của hồi sức tích cực của y khoa hiện đại. Để phát huy hiệu quả dàn máy móc tối tân này, từ bác sĩ, điều dưỡng, kỹ thuật viên khoa ICU không chỉ vững chuyên môn, kết hợp với quy trình theo dõi và phối hợp điều trị chặt chẽ mà còn phải tự đào tạo và liên kết đào tạo liên tục với chuyên gia, bác sĩ giỏi hàng đầu tại Việt Nam và thế giới”, bác sĩ Vương Mỹ Dung chia sẻ.

Sau hơn ba năm làm việc tại ICU Tâm Anh, Nhung đã quen với nhịp trực kéo dài 12 tiếng, từ 7h đến 19h hoặc từ 19h đến 7h hôm sau. Theo phân công của khoa, mỗi điều dưỡng thường phụ trách chính hai người bệnh.
Trong một ca trực, ước tính Nhung di chuyển khoảng 8.000-10.000 bước. Cô liên tục đi giữa các giường để thực hiện y lệnh, theo dõi sinh hiệu, lấy mẫu xét nghiệm tại chỗ theo quy trình, quan sát tri giác, kiểm soát tình trạng kích động và báo bác sĩ khi phát hiện dấu hiệu bất thường.
Công việc không dừng ở những can thiệp chuyên môn. Nhung cùng nhân viên hỗ trợ chăm sóc vệ sinh cá nhân, thay bỉm, thay băng, chăm sóc vết thương, lật trở người bệnh và phối hợp thực hiện các hoạt động chăm sóc khác tùy tình trạng. Khi người bệnh tỉnh táo, cô trò chuyện, giải thích những việc sắp làm, động viên họ trong quá trình điều trị.
“Có những lúc mình vừa làm xong việc ở giường này thì giường khác cần hỗ trợ. Gần như cả ca trực đều di chuyển, rất ít khi ngồi xuống, trừ lúc tranh thủ ăn cơm”, Nhung kể.

Theo phân công tại khoa, mỗi kíp trực có khoảng 6 bác sĩ, 15-20 điều dưỡng và 6 nhân viên hỗ trợ chăm sóc. Sự phối hợp giữa các vị trí giúp duy trì hoạt động theo dõi, điều trị và chăm sóc liên tục, nhất là khi nhiều người bệnh cần hỗ trợ cùng lúc.
Những ngày thuận lợi, khi người bệnh cải thiện, có thể chuyển xuống khoa điều trị thông thường, Nhung cảm thấy công việc cứu người của mình ít nhất cũng hoàn thành bước đầu.
Năm 2021, khi dịch Covid-19 bùng phát dữ dội tại TP.HCM, Nhung được phân công hỗ trợ và thực tập tại Bệnh viện Hồi sức Covid-19, nơi điều trị những bệnh nhân nguy kịch trong giai đoạn dịch căng thẳng nhất.
“Giường nào cũng là bệnh nhân rất nặng. Có người mình vừa chăm sóc đã trút hơi thở cuối cùng. Em không có lựa chọn nào khác ngoài gạt nỗi buồn và sợ hãi để tiếp tục chăm sóc những người còn cơ hội”, Nhung nhớ lại.
Trải nghiệm ấy khiến cô hiểu rõ hơn áp lực của nghề hồi sức. Sau khi tốt nghiệp Nhung quyết định tiếp tục gắn bó với ngành hồi sức, dù biết mỗi ngày đều có thể đối diện với những tình huống khó lường.
Nếu máy móc, thuốc men và các kỹ thuật hồi sức hiện đại là những công cụ hỗ trợ điều trị chuyên sâu thì sự tận tâm chăm sóc của nhân viên y tế đối với người bệnh là điều tất yếu. Đôi khi, đó là việc giúp một người nằm lâu trên giường giảm mỏi, giữ vệ sinh cơ thể, hoặc đơn giản là ngồi lại trò chuyện để họ bớt sợ hãi.
Với chị Nguyễn Thị Ngọc Hà, 41 tuổi, nhân viên hỗ trợ chăm sóc tại ICU, một trong những ký ức khó quên nhất là cô bé 12 tuổi mắc ung thư não, đã điều trị tại khoa gần bốn năm trước.
Khi khối u tiến triển, tình trạng của bé ngày càng nặng. Theo lời kể của chị Hà, các phương pháp điều trị bệnh không còn phù hợp, trong khi những cơn đau vẫn tiếp diễn. Bé không thường xuyên khóc lóc hay than vãn. Chỉ khi đau vượt quá sức chịu đựng, em mới bám lấy áo, nắm tay chị và nói: “Con đau quá”.
Những lúc ấy, chị Hà thường ở bên vỗ về, tìm cách giúp bé dễ chịu hơn và phối hợp với nhân viên y tế trong việc chăm sóc. Nhìn cơ thể nhỏ bé nằm giữa chăn gối và các thiết bị hỗ trợ, chị nghĩ đến con trai mình ở nhà, cũng trạc tuổi em, rồi không kìm được nước mắt.
Sau nhiều tuần điều trị tích cực, tình trạng bệnh nhi không cải thiện và em không qua khỏi. Trong lần cuối cùng vệ sinh, thay quần áo cho bé, chị Hà chỉ mong em được ra đi thanh thản, không còn đau đớn.
“Mình là người lớn chưa chắc chịu đựng nổi, trong khi con bé nhỏ xíu vẫn chống chọi mỗi ngày. Nghĩ vậy, mình lại tự nhủ phải cố gắng làm những gì có thể cho những người bệnh còn lại”, chị Hà nói.
Bí quyết riêng của chị Nguyễn Thị Thanh Tâm, 37 tuổi, nhân viên hỗ trợ chăm sóc, là đặt mình vào vị trí bệnh nhân để thấu hiểu. Những lần bệnh nhân sảng không làm chủ được hành vi mà kích động mắng chửi, chị tự nhủ chỉ là họ đang đau bệnh, khó chịu trong người mà không biết trút đi đâu. Nếu người bình thường chửi còn có cớ mà giận, nhưng người bệnh thời điểm ấy thậm chí họ còn không biết đang gieo tổn thương. Chị xem những vất vả, dồn nén trong công việc là bài học và thử thách mà nghề dành cho mình.

Những người làm việc tại ICU thường xuyên chứng kiến ranh giới sinh tử. Họ có thể trải qua cảm giác buồn bã, day dứt, thậm chí tự hỏi liệu mình còn có thể làm gì khác để giúp người bệnh. Nhưng rồi các đồng nghiệp cùng động viên, vực dậy bởi phía trước vẫn còn những bệnh nhân khác đang cần được theo dõi, chăm sóc và điều trị.
Niềm vui của họ đôi khi rất giản dị, một người bệnh giảm khó thở, một vết thương tiến triển tốt, một bệnh nhân có thể tự ăn trở lại hoặc đủ điều kiện chuyển xuống khoa điều trị thông thường. Bên cạnh nỗ lực điều trị, chăm sóc giảm nhẹ cũng có vai trò quan trọng đối với những người bệnh có triệu chứng khó kiểm soát hoặc bệnh tiến triển nặng. Mục tiêu không chỉ là điều trị bệnh khi còn khả năng, mà còn giúp người bệnh giảm đau, bớt khó chịu và duy trì chất lượng sống phù hợp với tình trạng thực tế.
Người đàn ông này bị nhồi máu cơ tim, ngưng tim hơn 60 phút, được các bác sĩ Tâm Anh sử dụng nhiều máy móc hiện đại như ECMO điều trị, giúp ông hồi phục không di chứng. Ảnh: Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh

Theo bác sĩ Vương Mỹ Dung, áp lực lớn của nghề hồi sức không chỉ nằm ở những cuộc chạy đua giành giật sự sống mà còn phải đối diện với những trường hợp dù đã được điều trị tích cực vẫn không thể qua khỏi. Tuy nhiên, hồi sức cấp cứu ngày nay đã có thêm nhiều phương tiện hỗ trợ mà trước đây còn hạn chế. Nếu trước kia, việc theo dõi người bệnh chủ yếu dựa vào thăm khám lâm sàng và những chỉ số cơ bản. Ngày nay, các hệ thống monitor hiện đại hiện có thể theo dõi liên tục nhiều thông số sinh tồn và có độ nhạy cao, giúp nhân viên y tế sớm nhận ra những thay đổi bất thường. Các thiết bị chuyên sâu còn hỗ trợ đánh giá chức năng phổi, tuần hoàn và đáp ứng điều trị, cung cấp thêm cơ sở để bác sĩ lựa chọn phương án can thiệp phù hợp.
Tại ICU Tâm Anh, các phương tiện hồi sức chuyên sâu được triển khai theo tình trạng và nhu cầu của từng người bệnh. Với trường hợp suy hô hấp nặng, máy thở hiện đại cho phép theo dõi các thông số cơ học phổi, cung cấp thêm thông tin để bác sĩ tối ưu cài đặt máy thở, hướng đến hạn chế tổn thương phổi do thở máy. Khi các biện pháp hỗ trợ hô hấp thông thường không đủ đáp ứng, một số người bệnh được cân nhắc sử dụng ECCO2R – kỹ thuật đào thải CO2 qua màng ngoài cơ thể, hoặc ECMO – hệ thống tuần hoàn ngoài cơ thể có khả năng hỗ trợ trao đổi oxy và thải carbon dioxide, tạo điều kiện cho tim hoặc phổi có thời gian hồi phục.
Với người bệnh sốc hoặc rối loạn tuần hoàn nặng, các phương tiện theo dõi huyết động chuyên sâu giúp bác sĩ đánh giá tình trạng cung lượng tim, tưới máu cơ quan và đáp ứng điều trị. Những trường hợp suy thận cấp, sốc nhiễm trùng hoặc rối loạn chuyển hóa nghiêm trọng có thể cần lọc máu liên tục; trong một số bệnh lý phù hợp, thay huyết tương hoặc lọc máu hấp phụ cũng được cân nhắc. Các kỹ thuật này không áp dụng đại trà, mà được lựa chọn dựa trên chẩn đoán, mức độ nặng và mục tiêu điều trị của từng người bệnh.
Sự phát triển của công nghệ không đồng nghĩa mọi ca bệnh đều có thể cứu sống. Nhưng khi được sử dụng đúng chỉ định, kết hợp với đánh giá chuyên môn và sự phối hợp chặt chẽ giữa bác sĩ, điều dưỡng cùng các nhân viên hồi sức, những thiết bị này giúp ekip có thêm phương án hỗ trợ các chức năng sống, theo dõi sát diễn biến và điều chỉnh điều trị kịp thời.

Trong số những người bệnh Nhung từng chăm sóc, bà Ngà, 74 tuổi, là người có mối gắn bó đặc biệt với cô điều dưỡng trẻ. Bà bị đục thủy tinh thể, thị lực hạn chế, lại lãng tai nên thường lo lắng khi nằm một mình. Cứ khoảng 5-10 phút, bà lại gọi Nhung để nhờ uống nước, chỉnh nhiệt độ máy sưởi, lau miệng hoặc trở mình. Nhiều khi, những việc ấy chỉ mất ít phút, nhưng với bà, điều quan trọng còn là được nghe tiếng người bên cạnh.
Thấy Nhung tất tả chạy đến, bà khẽ nói: “Ngoại kêu vậy thôi, đừng giận ngoại nha”. “Hông, con hông có giận, con thương ngoại còn không hết. Để con xoa bóp cho ngoại một chút đỡ mỏi”, Nhung đáp lời.
Cô thường nghĩ về ông bà của mình khi chăm sóc những bệnh nhân cao tuổi. Việc trò chuyện, giải thích và kiên nhẫn đáp ứng những nhu cầu chính đáng của người bệnh giúp họ bớt bất an trong thời gian nằm viện.
Anh Châu, 36 tuổi, con trai út của bà Ngà, cho biết gần hai tuần mẹ điều trị tại ICU, mỗi lần vào thăm, anh đều yên tâm hơn khi thấy bà được chăm sóc chu đáo. Vết loét vùng cùng cụt mà gia đình từng lo khó lành nay đã xuất hiện da non. Tình trạng suy tim và suy hô hấp cũng cải thiện.
“Bác sĩ nói nếu kết quả xét nghiệm sáng mai tốt hơn, bà có thể chuyển xuống khoa thường. Tôi biết ơn vô cùng”, anh Châu nói.

Với gia đình người bệnh, những thay đổi ấy không chỉ nằm ở các chỉ số xét nghiệm. Đó còn là hy vọng người thân sớm qua giai đoạn nguy kịch, được rời khỏi môi trường hồi sức và từng bước trở lại sinh hoạt thường ngày. Tại ICU, việc chăm sóc người bệnh vì thế không chỉ là thực hiện đúng y lệnh hay vận hành thiết bị. Nhân viên y tế còn phải nhận biết khi nào người bệnh cần được giải thích, trấn an, hỗ trợ vệ sinh hoặc thay đổi tư thế; đồng thời phối hợp với bác sĩ và các bộ phận liên quan để đáp ứng nhu cầu phù hợp với tình trạng sức khỏe.
Những công việc ấy ít khi xuất hiện trong các thông số trên monitor, nhưng góp phần tạo nên trải nghiệm của người bệnh và gia đình trong thời gian điều trị.

TS.BS Phan Thị Xuân, Trưởng khoa ICU, Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, chia sẻ người bệnh được điều trị tại ICU thường có nguy cơ diễn tiến nặng do bệnh nặng phức tạp hoặc nhiều cơ quan cùng suy giảm chức năng. Kết quả điều trị phụ thuộc vào nhiều yếu tố, từ mức độ bệnh, thời điểm can thiệp đến khả năng đáp ứng và các bệnh đi kèm. Bởi vậy, bên cạnh việc nâng cao năng lực chuyên môn, phát hiện sớm nguy cơ và xử trí kịp thời, các cơ sở hồi sức cần duy trì quy trình theo dõi chặt chẽ, phối hợp giữa bác sĩ và điều dưỡng, đồng thời sử dụng phù hợp những phương tiện hỗ trợ chức năng sống.
Tại ICU Tâm Anh, các thiết bị như monitor, máy thở và hệ thống lọc máu hỗ trợ ekip theo dõi, duy trì hoặc hỗ trợ các chức năng sống khi người bệnh có chỉ định. Với những tình huống phức tạp, việc đánh giá toàn diện, lựa chọn phương án can thiệp và theo dõi đáp ứng sau điều trị vẫn đòi hỏi kinh nghiệm, khả năng phối hợp và sự chủ động của đội ngũ chuyên môn.

Mục tiêu của hồi sức không chỉ là vượt qua giai đoạn nguy kịch trước mắt mà còn hướng đến khả năng phục hồi phù hợp với tình trạng từng người bệnh. Quá trình này có thể cần sự phối hợp của nhiều chuyên khoa, cùng các biện pháp chăm sóc, dinh dưỡng và phục hồi chức năng khi người bệnh đủ điều kiện.
Tất cả người bệnh hồi phục, có thể khỏe mạnh rời khỏi ICU trở về nhà là mong ước, mục tiêu chung của các bác sĩ, điều dưỡng, người hỗ trợ chăm sóc. Đó cũng là “kim chỉ nam” để mỗi nhân viên y tế cải tiến quá trình thực hành. Song, thực tế chung khó khăn hơn rất nhiều. Một nghiên cứu đăng trên Thư viện Y khoa Mỹ, cho thấy tỷ lệ tử vong tại ICU là 35,9% trên tổng số bệnh nhân nội khoa nhập viện. Khoảng một nửa số ca tử vong là do sốc nhiễm khuẩn, suy tim sung huyết, viêm phổi cộng đồng nặng và đột quỵ. Nguyên nhân tử vong trực tiếp phổ biến nhất là ngừng tim hô hấp.
ICU là nơi xảy ra số ca tử vong cao nhất ở hầu hết các bệnh viện, song tỷ lệ này khác nhau trên toàn thế giới, tùy thuộc vào các yếu tố như cơ sở hạ tầng ICU, số lượng nhân viên y tế, cũng như nguyên nhân nhập viện ICU. Riêng tại Mỹ, tỷ lệ tử vong ở ICU từ 8% đến 19%. Các châu lục như Bắc Mỹ, Châu Đại Dương, Châu Á và Châu Âu có tỷ lệ tử vong trong ICU thấp hơn, lần lượt là 9,3%, 10,3%, 13,7% và 18,7%. Châu Phi có tỷ lệ tử vong trong ICU cao hơn, một số nghiên cứu được thực hiện tại Nigeria, Tanzania và Kenya cho thấy tỷ lệ tử vong trong ICU lần lượt là 32,9%, 40,1% và 53,6%. Tại Việt Nam chưa ghi nhận tỷ lệ này trên phạm vi cả nước cả nước, thêm nữa các quy mô và tiêu chí đánh giá khác nhau nên tỷ lệ có thể khác nhau giữa các nghiên cứu.
Để kéo giảm ngày càng thấp tỷ lệ người bệnh tử vong tại ICU, bác sĩ Dung cho rằng ngoài đào tạo nâng cao năng lực điều trị, ứng dụng công nghệ, trang thiết bị hiện đại, điều quan trọng hơn là người bệnh được tầm soát sớm nguy cơ để phòng ngừa, chẩn đoán phát hiện sớm bệnh, từ đó điều trị kịp thời, hiệu quả hơn trước khi nhập viện.
Theo bác sĩ Dung, không phải trường hợp nào cũng có thể hồi phục hoàn toàn. Có người cần điều trị kéo dài, có người phải tiếp tục chăm sóc sau khi qua cơn nguy kịch. Với những bệnh nhân không thể cứu sống, việc kiểm soát triệu chứng và hỗ trợ người bệnh, gia đình cũng là một phần quan trọng của chăm sóc y tế.

Điều dưỡng Nhung hiểu điều đó từ những ngày đầu bước vào nghề. Cô không thể quyết định mọi kết quả, nhưng có thể cố gắng nhận ra sớm những thay đổi bất thường, thực hiện đúng nhiệm vụ, báo bác sĩ kịp thời và chăm sóc người bệnh bằng sự kiên nhẫn.
Ở giường bệnh số 3, bà Ngà vẫn thường gọi “bé Nhung” mỗi khi cần giúp đỡ. Ở những giường khác, những người bệnh đang tiếp tục được theo dõi, điều trị và chăm sóc. Còn với các bác sĩ, điều dưỡng và nhân viên hỗ trợ, ca trực vẫn tiếp diễn, cùng những công việc nối tiếp nhau không ngừng.
Một người bệnh ổn định có thể chuyển xuống khoa thường. Một người khác cần được hỗ trợ hô hấp khẩn cấp. Mỗi tình huống đòi hỏi một quyết định chuyên môn khác nhau nhưng đều cần sự hiện diện liên tục của cả ekip.
Với những người ở lại bên giường bệnh ICU, đó là công việc mỗi ngày cần theo dõi sát từng thay đổi, phối hợp điều trị và chăm sóc người bệnh qua những thời điểm khó khăn nhất, bằng năng lực chuyên môn và sự tận tâm.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH