Hà Nội – Thường xuyên nhức mỏi chân và bị chuột rút buổi tối, bé Phương (14 tuổi) bất ngờ được bác sĩ chẩn đoán suy tĩnh mạch chi dưới – căn bệnh vốn chỉ phổ biến ở người sau 50 tuổi.
Gia đình cho biết, ban đầu gia đình chỉ nghĩ con mỏi chân do đi học hoặc vận động nhiều. Tuy nhiên, tình trạng phù nhẹ ở hai cổ chân xuất hiện đều đặn vào cuối ngày, chưa ghi nhận tĩnh mạch giãn hay có các tổn thương da mạn tính như tăng sắc tố, viêm da hay loét. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, kết quả siêu âm Doppler ghi nhận dòng máu trào ngược bệnh lý ở tĩnh mạch hiển lớn – dấu hiệu điển hình của suy tĩnh mạch chi dưới giai đoạn sớm.
BS.CKII Lê Anh Tuấn, khoa Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội, cho biết đây là trường hợp điển hình cho thấy suy tĩnh mạch cũng có thể gặp ở trẻ em và thanh thiếu niên song chưa được quan tâm đúng mức, dễ bị bỏ qua do triệu chứng ban đầu mờ nhạt.
Trong hệ tĩnh mạch bình thường, các van tĩnh mạch mạch giúp máu di chuyển một chiều từ chân trở về tim. Khi van tĩnh mạch bị tổn thương hoặc có bất thường bẩm sinh, khiến hoạt động của van không hiệu quả, máu sẽ trào ngược xuống phần thấp của chân, làm tăng áp lực trong tĩnh mạch, gây ra các triệu chứng khó chịu và mất thẩm mỹ.

Ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể nhức, mỏi hoặc nặng chân, chuột rút, nhất là về cuối ngày hoặc sau khi đứng, ngồi lâu. Một số trường hợp xuất hiện phù nhẹ hoặc các tĩnh mạch nông giãn dưới da. Các triệu chứng thường giảm khi nghỉ ngơi hoặc kê cao chân. Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng trào ngược kéo dài, áp lực tĩnh mạch tăng dai dẳng có thể khiến phù tái diễn, tĩnh mạch giãn nhiều hơn và xuất hiện các thay đổi trên da như tăng sắc tố, viêm da hoặc xơ cứng mô dưới da. Giai đoạn nặng có thể hình thành loét chân do bệnh tĩnh mạch, ảnh hưởng đến sinh hoạt và chất lượng cuộc sống.
Mẹ và bà của Phương đều mắc suy giãn tĩnh mạch – có thể bé mắc bệnh do di truyền, theo bác sĩ Tuấn. Yếu tố di truyền có thể ảnh hưởng đến cấu trúc thành mạch và chức năng van tĩnh mạch. Những thay đổi của cơ thể trong quá trình tăng trưởng ở tuổi dậy thì có thể khiến tình trạng này biểu hiện rõ hơn, dẫn đến triệu chứng bất thường.
Bé Phương may mắn phát hiện ở giai đoạn sớm nên được chỉ định điều trị bảo tồn, kết hợp mang vớ áp lực phù hợp, tăng cường vận động và hạn chế đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu, đồng thời theo dõi định kỳ lâu dài.
Báo cáo “Suy tĩnh mạch chi dưới mạn tính ở trẻ em và thanh thiếu niên: Tiếp cận chẩn đoán và điều trị sớm” của BS.CKII Lê Anh Tuấn trong Hội nghị khoa học thường niên 2026 do Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh tổ chức ngày 19-20/9, khẳng định suy tĩnh mạch chân thường gặp ở người trưởng thành, đặc biệt ở người lớn tuổi, phụ nữ mang thai hoặc người thừa cân, béo phì. Tuy nhiên hiện nay các nghiên cứu cho thấy tình trạng này còn xuất hiện ở trẻ em và thanh thiếu niên, các biểu hiện có thể nhẹ hoặc không điển hình, dễ bị bỏ qua hoặc nhầm với mỏi chân do vận động.
Bác sĩ Tuấn đơn cử nghiên cứu Bochum I-III thực hiện tại Đức trên 518 học sinh 10-12 tuổi ghi nhận 2,9% có trào ngược tại tĩnh mạch hiển lớn và 0,2% tại tĩnh mạch hiển bé; khoảng 10,2% đã có giãn tĩnh mạch dạng lưới. Khi trẻ được theo dõi đến 14-16 tuổi, tỷ lệ trào ngược và suy tĩnh mạch xuyên tăng vọt rõ rệt.
Từ đó đến nay, các nghiên cứu về bệnh lý suy tĩnh mạch ở trẻ không nhiều, phần lớn có quy mô nhỏ hoặc tập trung vào nhóm trẻ đã có triệu chứng. Một nghiên cứu được công bố năm 2024 trên Thư viện Quốc gia Y khoa Hoa Kỳ (Pubmed) khảo sát trên 34 trẻ vị thành niên mắc suy tĩnh mạch ghi nhận độ tuổi khởi phát triệu chứng trung bình là 16,7 tuổi, dao động 13-21 tuổi (nhỏ nhất là 13 tuổi). Trong đó, gần 50% trường hợp có diễn tiến nặng, buộc phải chỉ định can thiệp nội mạch.
Theo bác sĩ Tuấn, các nghiên cứu gần đây chỉ bao gồm những trẻ đã có triệu chứng và được thăm khám, vì vậy kết quả không thể dùng để ước tính tỷ lệ suy tĩnh mạch trong cộng đồng trẻ em. Trẻ em là nhóm cần được quan tâm hơn trong phát hiện các bất thường tĩnh mạch, đặc biệt khi có triệu chứng hoặc yếu tố nguy cơ. Phát hiện sớm giúp điều trị kịp thời, hạn chế bệnh tiến triển và giảm nguy cơ biến chứng sau này ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ.
Một số yếu tố có thể liên quan đến bệnh tĩnh mạch ở trẻ gồm bất thường bẩm sinh của hệ tĩnh mạch, yếu tố gia đình, tiền sử huyết khối tĩnh mạch và các yếu tố mắc phải. Trong đó, tiền sử gia đình mắc bệnh tĩnh mạch được ghi nhận ở 70-80% trẻ mắc bệnh. Một số bất thường gen hoặc nhiễm sắc thể (khiếm khuyết nhiễm sắc thể, đột biến gen, đa hình đơn Nucleotide) cũng được ghi nhận trong các bệnh lý tĩnh mạch bẩm sinh, song không phải nguyên nhân thường gặp. Tình trạng huyết khối tĩnh mạch sâu trước đó có thể làm tổn thương van tĩnh mạch, gây suy tĩnh mạch thứ phát. Ở trẻ gái, yếu tố thay đổi nội tiết, đặc biệt estrogen trong giai đoạn dậy thì, chu kỳ kinh nguyệt… có thể ảnh hưởng đến thành và chức năng tĩnh mạch. Bên cạnh đó, thừa cân, béo phì, ít vận động, đứng hoặc ngồi lâu có thể làm tăng áp lực lên hệ tĩnh mạch và khiến triệu chứng rõ hơn.
Để chẩn đoán chính xác, bác sĩ cần kết hợp triệu chứng lâm sàng, khám thực thể và siêu âm Doppler tĩnh mạch nhằm xác định tình trạng trào ngược, đánh giá nguyên nhân và mức độ bệnh, từ đó lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, hạn chế bệnh tiến triển và các tổn thương khó hồi phục.
Với các trường hợp không đáp ứng điều trị bảo tồn hoặc bệnh tiến triển xấu, y học hiện đại đã phát triển các phương pháp can thiệp tối thiểu, không sử dụng nhiệt như tiêm xơ hoặc keo sinh học. Đây là các giải pháp nhẹ nhàng, giúp đóng tĩnh mạch suy hiệu quả mà không gây tổn thương mô xung quanh, phù hợp cho thể trạng của trẻ nhỏ.
Bác sĩ Tuấn khuyến cáo trẻ có tiền sử gia đình mắc suy tĩnh mạch, béo phì, lối sống ít vận động hoặc có bất thường nội tiết cần được theo dõi và tầm soát sớm ngay cả khi chưa có triệu chứng rõ ràng. Trường hợp thường xuyên phù, nặng hoặc mỏi chân, xuất hiện tĩnh mạch nổi, giãn bất thường hoặc các triệu chứng kéo dài, tái diễn cần đi khám sớm để được bác sĩ chẩn đoán chính xác nguyên nhân, điều trị kịp thời.
*Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH