(TP HCM) – Bà Ngọc, 69 tuổi, ám ảnh nội soi suốt nhiều năm; nay đi khám do tiêu chảy kéo dài, phát hiện ung thư đại tràng sigma đã di căn gan.
Bà Ngọc từng một lần nội soi “sống” (không gây mê) cách đây 18 năm, khiến bà buồn nôn, căng tức bụng, đau quặn mỗi khi ống soi đi qua các đoạn cong của đại tràng. Từ đó, dù duy trì thăm khám sức khỏe định kỳ, bà kiên quyết từ chối nội soi.
Gần đây, bà Ngọc xuất hiện tiêu chảy kéo dài, đôi lúc lẫn dịch màu hồng nhạt khi đi tiêu. Lo lắng, bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP. HCM khám. Bác sĩ chỉ định nội soi dạ dày và đại tràng có gây mê (nội soi không đau), khắc phục “ám ảnh” của bà Ngọc để tìm nguyên nhân.
ThS.BS.CKII Trần Hiếu Nhân, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, cho biết quá trình nội soi phát hiện một khối u cách bờ hậu môn khoảng 18 – 20 cm, chiếm gần toàn bộ chu vi lòng ruột. Bề mặt u mủn bở, dễ chảy máu, khiến ống soi khó đi qua. Một số polyp tăng sản ở trực tràng và đại tràng sigma cũng được ghi nhận. Bác sĩ lấy mẫu mô tại khối u làm sinh thiết.
Kết quả chụp CT cũng cho thấy thành đoạn cuối đại tràng sigma dày không đều, dài khoảng 5 cm, mất cấu trúc các lớp thành ruột, kèm thâm nhiễm nhẹ mô mỡ xung quanh và một khối mô mềm cạnh tổn thương. Đáng chú ý, gan trái xuất hiện một tổn thương choán chỗ khoảng 3,5 cm, bờ không đều, nghi di căn. Một nốt nhỏ kích thước 5 mm trong gan cũng được ghi nhận nhưng chưa đủ cơ sở xác định bản chất.

Bà Ngọc được chẩn đoán ung thư đại tràng sigma giai đoạn IV, di căn gan. Người bệnh đồng thời bị tăng huyết áp, đái tháo đường và có di chứng sau nhồi máu não.
Theo ThS.BS.CKII Trần Hiếu Nhân, khối u đại tràng đã gây hẹp lòng ruột, có nguy cơ dẫn đến tắc ruột. Trong khi đó, tổn thương gan khu trú ở phần gan trái, chưa xâm lấn các cơ quan lân cận. Sau khi đánh giá toàn diện thể trạng, vị trí khối u và khả năng phẫu thuật, êkíp quyết định phẫu thuật nội soi cắt khối u đại tràng và tổn thương di căn gan trong cùng một cuộc mổ.
Trước tiên, bác sĩ cắt đoạn đại tràng sigma và trực tràng chứa khối u, đồng thời nạo vét hạch vùng và nối đại tràng với trực tràng. Miệng nối được kiểm tra ngay trong mổ, không ghi nhận dấu hiệu rò. Sau đó, êkíp tiếp tục tiến hành cắt phần gan trái chứa tổn thương di căn, kiểm soát các mạch máu và đường mật, cầm máu kỹ tại diện cắt. Một tổn thương phúc mạc dưới hoành trái ghi nhận trong mổ cũng được cắt lấy mẫu gửi giải phẫu bệnh để đánh giá.
Sau mổ, bà Ngọc hồi phục thuận lợi, có thể đi lại từ ngày thứ hai và xuất viện sau 5 ngày. Sau khi có kết quả giải phẫu bệnh là ung thư biểu mô tuyến xâm nhập tới lớp dưới thanh mạc, 24 hạch âm tính, diện cắt 2 đầu âm tính, u xâm nhập mạch và quanh thần kinh, di căn gan và phúc mạc. Người bệnh được tiếp tục theo dõi và điều trị tại chuyên khoa Ung bướu nhằm kiểm soát nguy cơ tái phát và bệnh còn sót ở mức vi thể.

Theo bác sĩ Nhân, trường hợp bà Ngọc cho thấy việc trì hoãn tầm soát ung thư đại trực tràng chỉ vì sợ nội soi có thể khiến bệnh được phát hiện ở giai đoạn muộn. Ung thư đại trực tràng thường tiến triển âm thầm. Khi khối u còn nhỏ, chưa gây hẹp lòng ruột, người bệnh có thể không đau bụng, không rối loạn đi tiêu và vẫn sinh hoạt bình thường.
Khi bệnh tiến triển, một số triệu chứng có thể xuất hiện như thay đổi thói quen đi tiêu, tiêu chảy hoặc táo bón kéo dài, phân nhỏ hơn bình thường, có máu hoặc dịch nhầy trong phân, đau bụng, đầy hơi, sụt cân không rõ nguyên nhân hoặc thiếu máu. Tuy nhiên, các biểu hiện này không đặc hiệu và dễ bị nhầm với rối loạn tiêu hóa thông thường.
Đáng lưu ý, không xuất hiện triệu chứng không đồng nghĩa không có polyp hoặc ung thư đại trực tràng. Xét nghiệm máu, siêu âm bụng hay X-quang không thể thay thế nội soi đại tràng trong phát hiện trực tiếp các tổn thương niêm mạc. Xét nghiệm CEA trong máu cũng không được sử dụng đơn độc để tầm soát do độ nhạy hạn chế, đặc biệt ở giai đoạn sớm.
Nội soi đại tràng được xem là “tiêu chuẩn vàng” giúp bác sĩ quan sát trực tiếp toàn bộ niêm mạc, phát hiện polyp và các tổn thương bất thường. Những polyp có nguy cơ tiến triển thành ung thư có thể được cắt ngay trong quá trình nội soi, góp phần phòng ngừa ung thư.
Bác sĩ Hiếu Nhân khuyến cáo, mọi người nên bắt đầu tầm soát ung thư đại trực tràng từ 45 tuổi. Nếu nội soi không phát hiện bất thường đáng kể, khoảng thời gian tầm soát lại có thể lên đến 5 hoặc hơn, tùy kết quả lần nội soi và đánh giá của bác sĩ.
Người có nguy cơ cao, chẳng hạn có người thân bậc một (cha, mẹ) mắc ung thư đại trực tràng hoặc polyp tuyến hoặc những người có triệu chứng nghi ngờ bệnh lý đại tràng (thường đau quặn bụng dọc khung đại tràng hay có những bất thường về đại tiện, tính chất của phân…), cần được tầm soát sớm hơn và với khoảng cách ngắn hơn. Thời điểm bắt đầu và tần suất nội soi phụ thuộc tiền sử gia đình, tuổi người thân khi mắc bệnh, loại tổn thương và các yếu tố nguy cơ khác.
Hiện nay, nội soi đại tràng có thể được thực hiện với thuốc an thần hoặc gây mê (nội soi không đau) phù hợp, giúp giảm lo lắng và cảm giác khó chịu. Các hệ thống nội soi hiện đại cho hình ảnh sắc nét, hỗ trợ phóng đại và nhuộm màu điện tử, giúp bác sĩ nhận diện những tổn thương nhỏ, phẳng hoặc khó quan sát.
Tầm soát đúng độ tuổi, nội soi định kỳ và xử lý polyp tiền ung thư là những biện pháp quan trọng giúp phòng ngừa bệnh. Khi xuất hiện thay đổi kéo dài về thói quen đi tiêu, máu hoặc dịch nhầy trong phân, đau bụng hoặc sụt cân không rõ nguyên nhân, người bệnh nên đi khám sớm thay vì chờ triệu chứng nặng lên. Phát hiện càng sớm, ung thư đại trực tràng càng có nhiều cơ hội điều trị triệt căn và tiên lượng tốt hơn.
(*) Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH