Ung thư thận thường khó nhận biết ở giai đoạn đầu vì có thể chưa gây triệu chứng rõ ràng. Khi bệnh tiến triển, người bệnh có thể xuất hiện tiểu máu, đau vùng hông lưng, sụt cân không rõ nguyên nhân hoặc mệt mỏi kéo dài. Việc phát hiện sớm, xác định loại khối u và đánh giá mức độ lan rộng giúp bác sĩ xây dựng phác đồ điều trị phù hợp. Bài viết dưới đây cung cấp thông tin về nguyên nhân, dấu hiệu, phương pháp chẩn đoán, điều trị và cách giảm nguy cơ mắc bệnh.

Ung thư thận là sự phát triển ác tính các tế bào, hình thành khối u trong thận. Cũng cần lưu ý rằng, không phải bất kỳ khối u thận nào cũng ác tính. Một số trường hợp có thể là u lành tính, không phải ung thư.
Ung thư thận là cách gọi chung. Thực tế có nhiều loại ung thư khác nhau xảy ra ở thận, nhiều biến thể khối u ác tính và các giai đoạn của bệnh khác nhau. Phương pháp điều trị sẽ phụ thuộc vào loại khối u, giai đoạn bệnh và kinh nghiệm của bác sĩ điều trị.
Hiện vẫn chưa rõ nguyên nhân gây ra ung thư thận. Bệnh xảy ra khi các tế bào trong thận có những thay đổi trong DNA. Những thay đổi này khiến các tế bào ung thư phân chia nhanh chóng, hình thành khối u xâm lấn và phá hủy các mô khỏe mạnh trong cơ thể. Theo thời gian, các tế bào ung thư có thể tách ra và lan sang các bộ phận khác của cơ thể, gọi là ung thư di căn.
Mặc dù chưa xác định được chính xác nguyên nhân gây ung thư ở thận, tuy nhiên các chuyên gia, bác sĩ Tiết niệu khuyến cáo một số yếu tố dưới đây có thể làm tăng nguy cơ ung thư thận:

Trong hầu hết các trường hợp, k thận thường không có triệu chứng rõ ràng. Bệnh chỉ được phát hiện tình cờ qua siêu âm kiểm tra sức khỏe. Cứ 10 người bị ung thư thận thì có 1 người có các triệu chứng như đau một bên cơ thể, có khối u ở bụng hoặc tiểu ra máu. Đau xương hoặc ho dai dẳng có thể là dấu hiệu của bệnh ung thư đã lan rộng trong cơ thể. Những dấu hiệu cho thấy bệnh có thể đã tiến triển.
Một số người cũng có thể gặp hội chứng cận ung thư. Đây là những phản ứng của cơ thể đối với bất kỳ loại ung thư nào như huyết áp cao, sụt cân, sốt, thiếu máu, giảm khối lượng cơ và chán ăn. Hội chứng cận ung thư thường liên quan đến ung thư thận bao gồm thay đổi men gan và tiểu cầu trong máu. Những thay đổi này thường được phát hiện khi làm xét nghiệm máu và thông thường không biểu hiện triệu chứng.
ThS.BS.CKI Nguyễn Tân Cương cho biết, vì có nhiều loại u thận khác nhau, do đó bác sĩ cần kết hợp nhiều chẩn đoán, bao gồm đánh giá lâm sàng (hỏi bệnh sử, khám lâm sàng) và các xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu để giúp xác định khối u và mức độ lan rộng của u.
Bác sĩ sẽ khai thác các thông tin bệnh sử của người bệnh và gia đình, thói quen sinh hoạt, các triệu chứng và tiến hành khám thực thể.
Bác sĩ sẽ chỉ định người bệnh thực hiện các xét nghiệm và chẩn đoán hình ảnh cần thiết, bao gồm:
Xét nghiệm máu giúp bác sĩ đánh giá các chỉ số hồng cầu, bạch cầu. Xét nghiệm nước tiểu giúp tìm kiếm các dấu hiệu bất thường trong nước tiểu, chẳng hạn như máu, vi khuẩn và tế bào ung thư.

Đánh giá chi tiết cấu trúc, kích thước, đường bờ cùng với các dấu hiệu bệnh lý điển hình ở thận.
Sau khi phát hiện khối u, trước tiên bác sĩ cần biết u có phải là ác tính hay không. Chụp cắt lớp vi tính, hoặc MRI bụng và chậu tăng cường độ tương phản cung cấp nhiều thông tin như:
Chất tương phản được tiêm qua đường tĩnh mạch, thường ở cánh tay của người bệnh, làm nổi bật các tĩnh mạch, động mạch bằng các hình ảnh có đậm độ và màu sắc khác nhau. Tùy theo kiểu khảo sát, cho phép bác sĩ phân tích hình ảnh khối u, đánh giá kích thước của khối u và mức độ xâm lấn tĩnh mạch, các hạch bạch huyết hoặc các cơ quan xung quanh, điều này rất quan trọng để định hướng điều trị. Nếu bị dị ứng với chất tương phản, người bệnh sẽ được chụp MRI hoặc chụp CT không có chất cản quang.
Sinh thiết khối u thận là lấy mẫu mô để phân tích. Sinh thiết thận không phải là phương pháp tiêu chuẩn trong chẩn đoán ung thư thận, được bác sĩ chỉ định trong các trường hợp:
Người bệnh sẽ được gây tê, sau đó bác sĩ dùng kim lấy mẫu dưới hướng dẫn siêu âm hoặc CT. Đây là thủ thuật an toàn, nhưng có thể gây tiểu ra máu nhẹ, hiếm khi chảy máu nhiều. Các mẫu mô được bác sĩ giải phẫu bệnh phân tích để xác định hướng điều trị phù hợp.
Bác sĩ giải phẫu bệnh sẽ xác định phân nhóm phụ của khối u dựa trên giai đoạn bệnh và độ ác tính của tế bào ung thư, đánh giá có phải loại tế bào ác tính tiến triển nhanh hay không. Từ đó, bác sĩ chuyên khoa Tiết niệu sẽ đánh giá tiên lượng bệnh, tư vấn phác đồ điều trị phù hợp nhất cho bệnh nhân.
“Trong một số trường hợp, người bệnh có thể cần các thử nghiệm bổ sung để kiểm tra chức năng thận. Điều này rất quan trọng nếu người bệnh chỉ có một quả thận hoặc có nguy cơ bị suy thận vì mắc bệnh tiểu đường, huyết áp cao, nhiễm trùng mạn tính hoặc bệnh thận”, ThS.BS.CKI Nguyễn Tân Cương chia sẻ.
Nếu tế bào ung thư có thể đã di căn đến phổi, bệnh nhân sẽ cần thực hiện thêm CT ngực. Nếu bệnh nhân có các triệu chứng như đau xương hoặc động kinh, có thể cần chụp xạ hình xương hoặc não để kiểm tra liệu ung thư đã di căn đến những cơ quan này hay chưa.
Có nhiều loại ung thư thận khác nhau, bao gồm:

Nếu người bệnh được chẩn đoán mắc ung thư thận, bước tiếp theo là cần xác định mức độ lan rộng của ung thư, gọi là giai đoạn ung thư thận. Nếu khối u chỉ giới hạn ở thận, được gọi là ung thư thận khu trú. Trong ung thư thận khu trú tiến triển, khối u đã phát triển ra khỏi thận vào mô xung quanh và xâm lấn các tĩnh mạch, tuyến thượng thận hoặc các hạch bạch huyết. Nếu tế bào ung thư lan ra các hạch bạch huyết ở xa hoặc các cơ quan khác, được gọi là ung thư di căn xa.
Các giai đoạn của ung thư thận được chia thành:
Hệ thống đánh giá giai đoạn khối u thận dựa trên sự lan rộng của khối u và các hạch bạch huyết (TNM). Giai đoạn khối u cho biết mức độ tiến triển của khối u và liệu có di căn hay không (bao gồm di căn đến các hạch bạch huyết hoặc các cơ quan khác). Những yếu tố này là cơ sở để bác sĩ định hướng phác đồ điều trị phù hợp với từng người bệnh.
Bác sĩ chuyên khoa Tiết niệu sẽ đánh giá kích thước và sự xâm lấn của khối u (T) và xác định mức độ tiến triển dựa trên 4 giai đoạn. Các hạch bạch huyết bị ảnh hưởng (N) hoặc ung thư đã lan sang bất kỳ bộ phận nào khác của cơ thể (M) cũng được kiểm tra. Nếu khối u thận di căn, chúng thường lan đến phổi, hoặc đến xương hoặc não.

Bên cạnh việc đánh giá giai đoạn, phân loại khối u thận cũng là một yếu tố quan trọng trong đánh giá và điều trị. Từ mẫu mô sinh thiết hoặc mẫu bệnh phẩm phẫu thuật, bác sĩ giải phẫu sẽ thực hiện phân tích mô bệnh học để phân loại khối u. Khối u thận có nhiều loại khác nhau, tuy nhiên thường gặp nhất là ung thư biểu mô tế bào thận. Trong số này, hầu hết là loại ung thư biểu mô tế bào sáng.
Phân loại nhân Fuhrman là hệ thống phân loại được sử dụng phổ biến nhất để xác định mức độ ác tính của các tế bào khối u. Có 4 nhóm theo phân loại Fuhrman.
Sau khi đánh giá ung thư thận dựa trên giai đoạn TNM, độ Fuhrman và loại khối u, bác sĩ sẽ xây dựng phác đồ điều trị phù hợp với người bệnh. Một số phương pháp trong điều trị ung thư thận bao gồm:
Đối với các trường hợp người bệnh không đủ điều kiện để phẫu thuật, ung thư di căn xa hoặc u nhỏ. Bao gồm:
Có thể thực hiện bằng phẫu thuật mở, phẫu thuật nội soi thông thường hoặc phẫu thuật nội soi với sự hỗ trợ của robot. Các phương pháp phẫu thuật bao gồm:
Phẫu thuật cắt thận bán phần còn được gọi là phẫu thuật bảo tồn thận. Bác sĩ sẽ cắt bỏ phần thận chứa khối u và phần nhỏ mô xung quanh thận. Phương pháp này thường được chỉ định trong các trường hợp khối u nhỏ hơn 7 cm và còn nằm trong giới hạn thận, chưa xâm lấn mô xung quanh. Hoặc khối u to hơn 7 cm trên người bệnh có thận độc nhất, hoặc chức năng thận đối bên không bình thường, hoặc khối u xuất hiện trên cả 2 thận.
Khi có thể, phẫu thuật bảo tồn thận thường được ưu tiên hơn so với cắt bỏ toàn bộ thận để bảo tồn chức năng thận. Phẫu thuật cắt thận bán phần giúp bảo tồn tối đa mô thận lành, giảm nguy cơ biến chứng về sau, chẳng hạn như bệnh thận mạn hoặc nhu cầu phải chạy thận nhân tạo.
Một số khối u trong thận không phải dạng đặc mà là nang thận, đây là những túi chứa đầy dịch trong thận và dễ dàng nhận ra trên phim chụp CT. Nếu là nang thận có khả năng ác tính, những nang này cần được loại bỏ bằng phẫu thuật.
Trong phẫu thuật cắt thận tận gốc, bác sĩ sẽ cắt bỏ toàn bộ một thận có chứa khối u và các mô mỡ quanh thận. Phương pháp này thường được chỉ định cho ung thư thận khu trú có kích thước u lớn hơn 7 cm hoặc đã xâm lấn sang các mô xung quanh. Người bệnh cắt thận tận gốc vẫn có thể sống bình thường nhờ vào quả thận còn lại.
Phẫu thuật cắt thận rộng và nạo vét hạch thường được chỉ định trong trường hợp khối u xâm lấn các cơ quan lân cận. Bác sĩ sẽ tiến hành cắt thận rộng, đồng thời kết hợp nạo vét hạch bạch huyết, cắt bỏ tuyến thượng thận hoặc các cấu trúc lân cận.
Phẫu thuật điều trị ung thư ở thận có thể được thực hiện bằng phẫu thuật mở, phẫu thuật nội soi thông thường, hoặc hiện đại và an toàn hơn là phẫu thuật nội soi với sự hỗ trợ của hệ thống robot Da Vinci Xi thế hệ mới.
Khoa Tiết niệu, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, BVĐK Tâm Anh TP.HCM đã tiếp nhận và điều trị thành công nhiều ca u thận, ung thư thận phức tạp. Đặc biệt, với ưu thế hệ thống máy móc, thiết bị chẩn đoán hình ảnh hiện đại, nhiều người bệnh được tầm soát và phát hiện bệnh ngay từ giai đoạn sớm, giúp tối ưu hiệu quả và cải thiện chất lượng cuộc sống sau điều trị.
Phẫu thuật ung thư thận bằng robot Da Vinci Xi đem đến nhiều lợi thế:

Dưới đây là bảng so sánh phương pháp nội soi thông thường và phẫu thuật nội soi có sự hỗ trợ của robot trong điều trị u thận và k thận:
| Tiêu chí | Nội soi thông thường | Nội soi với robot Da Vinci Xi thế hệ mới |
| Lượng máu mất trung bình | 200 – 300 ml | 120 ml |
| Khả năng chuyển sang cắt thận toàn phần | Cao hơn 5 – 7,9% | Thấp hơn 2,9 – 5% |
| Biến chứng sau mổ | Cao hơn 11,2% | Thấp hơn 9,2% |
| Khả năng tái phát sau mổ | 2,9% | 2,29% |
| Thời gian nằm viện | 4 – 5 ngày | 2 – 3 ngày |
| Tầm nhìn phẫu trường | 2D, độ phân giải thấp | 3D HD, phóng đại 10 – 15 lần, tầm nhìn rõ nét |
| Độ linh hoạt của dụng cụ | Hạn chế, thao tác cứng nhắc | Cánh tay robot linh hoạt, di chuyển 540 độ, chính xác từng milimet |
| Hiệu quả điều trị | Tốt | Tốt hơn, giảm biến chứng, ít mất máu và giảm thiểu nguy cơ tái phát |
Đối với k thận giai đoạn tiến triển hoặc tái phát, người bệnh cần kiểm soát bằng một số phương pháp điều trị, bao gồm:
Liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư là phương pháp điều trị bằng thuốc giúp hệ thống miễn dịch của cơ thể tìm và tiêu diệt tế bào ung thư. Đối với ung thư thận, liệu pháp miễn dịch có thể được sử dụng sau phẫu thuật để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại. Liệu pháp này cũng có thể được sử dụng khi khối u phát triển rất lớn hoặc di căn sang các bộ phận khác của cơ thể.
Liệu pháp nhắm đích trong điều trị ung thư là phương pháp sử dụng thuốc trúng đích nhằm ngăn chặn các tín hiệu bất thường đặc hiệu của tế bào ung thư thận. Bằng cách ngăn chặn các tín hiệu này, liệu pháp nhắm trúng đích có thể khiến tế bào ung thư chết đi, làm giảm kích thước khối u. Liệu pháp nhắm trúng đích có thể được áp dụng trước hoặc phẫu thuật, hoặc kết hợp với liệu pháp miễn dịch.
Xạ trị có thể được sử dụng trên thận để tiêu diệt các tế bào ung thư, kiểm soát hoặc giảm các triệu chứng của ung thư thận đã di căn sang các vùng khác của cơ thể, chẳng hạn như xương và não.
Đôi khi, người bệnh không thể phục hồi sau điều trị. Khi không còn đáp ứng với các phương pháp điều trị, người bệnh có thể được đề nghị chăm sóc giảm nhẹ để cải thiện triệu chứng, giúp chất lượng sống thoải mái hơn.
Sau phẫu thuật điều trị ung thư thận, người bệnh cần chú ý:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Ung thư thận có thể được phát hiện sớm và điều trị hiệu quả qua thăm khám sức khỏe tiết niệu định kỳ. Bác sĩ khuyến cáo, mỗi người nên chủ động khám sức khỏe tối thiểu 1 lần/năm để phát hiện sớm các bất thường tiết niệu nhằm cải thiện chất lượng điều trị, bảo tồn tối đa chức năng thận và giảm thiểu biến chứng về sau.