Polyp tử cung có thể trở quá trình thụ thai ở nhiều phụ nữ nhưng thường tiến triển âm thầm, ít biểu hiện rõ ràng nên khó phát hiện qua các chẩn đoán thông thường.
Như chị Trà, 32 tuổi, kết hôn 6 năm không có con, bác sĩ phát hiện buồng tử cung dày đặc polyp, lấp kín cả cổ tử cung. Còn chị Thảo, 35 tuổi, mong con 7 năm, đi khám mới biết có vài polyp trong lòng tử cung, kích thước lớn nhất 3×5 mm, kèm rối loạn tăng sinh niêm mạc tử cung.
Đây là hai trong số nhiều trường hợp vô sinh do có polyp trong buồng tử cung điều trị tại Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (IVF Tâm Anh Hà Nội). Bác sĩ CKI Lê Đức Thắng cho biết, nguyên nhân này chiếm khoảng 20% trường hợp vô sinh hiếm muộn tại IVF Tâm Anh.
Theo bác sĩ Thắng, polyp thường là những tổn thương lành tính, xảy ra khi lớp nội mạc tử cung phát triển quá mức. Sự xuất hiện của chúng có thể cản trở tinh trùng di chuyển đến gặp trứng hoặc gây biến dạng buồng tử cung, ngăn phôi thai làm tổ và phát triển, gây vô sinh nữ ở khoảng 15 – 35% trường hợp. Với khối polyp kích thước lớn, khi có thai chúng sẽ chiếm chỗ trong tử cung, có thể gây sảy thai, sinh non.
Một số loại polyp, đặc biệt là polyp nằm ở cổ tử cung, có thể làm tăng tiết dịch âm đạo, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật có hại phát triển. Từ đó gây ra các bệnh phụ khoa như viêm âm hộ, viêm âm đạo, viêm cổ tử cung… ảnh hưởng đến khả năng sinh sản và tăng nguy cơ biến chứng thai kỳ. Nếu không can thiệp, chúng cũng có thể gây chuyển phôi thất bại khi điều trị thụ tinh ống nghiệm (IVF).
Bác sĩ Thắng cho biết, nữ giới có kinh nguyệt không đều, đặc biệt là người mắc hội chứng buồng trứng đa nang, béo phì, có khả năng mắc bệnh cao hơn, do nồng độ hormone estrogen tăng cao liên quan đến những tình trạng này. Ngoài ra, trong quá trình điều trị vô sinh cần sử dụng các thuốc kích thích buồng trứng, nồng độ estrogen tăng cao có thể đẩy nhanh sự phát triển của nội mạc tử cung, từ đó làm polyp nội mạc tử cung hình thành hoặc phát triển lớn hơn, đặc biệt ở những người có yếu tố nguy cơ từ trước.
Polyp kích thước nhỏ khó phát hiện thông qua các phương pháp thăm khám thông thường như siêu âm đầu dò, siêu âm bơm nước vào lòng tử cung, chụp X-quang tử cung vòi trứng… Nội soi buồng tử cung phối hợp giải phẫu bệnh học được xem là phương pháp tiêu chuẩn vàng giúp chẩn đoán tình trạng này, với độ đặc hiệu và độ nhạy đạt 100%.
Kỹ thuật đặc biệt có lợi ở những bệnh nhân thất bại chuyển phôi nhiều lần, tiền sử sảy thai liên tiếp, vô sinh không rõ nguyên nhân trong thời gian dài. Bác sĩ có thể quan sát trực tiếp các bất thường trong buồng tử cung, đồng thời xử lý các tổn thương nếu có. Tại IVF Tâm Anh, thủ thuật được thực hiện ngoại trú ngay tại phòng khám mà không phải chuyển xuống phòng mổ, rút ngắn thời gian thăm khám và lưu viện.
Theo bác sĩ Thắng, phương pháp điều trị thường là phẫu thuật nội soi cắt polyp, tỷ lệ tái phát khoảng 15%, không đảm bảo khả năng có thai tự nhiên sau can thiệp. Khả năng mang thai tăng 30% nếu thụ tinh nhân tạo (IUI) và 65% nếu thụ tinh ống nghiệm (IVF). Ngoài ra, cách này cũng giúp điều trị hoặc cải thiện triệu chứng kinh nguyệt không đều, chảy máu sau giao hợp. Đồng thời, ngăn ngừa một số biến chứng như viêm nhiễm phụ khoa, nguy cơ hội chứng buồng trứng đa nang, ung thư, sảy thai hoặc sinh non.

Mong sớm có con, vợ chồng chị Trà quyết định điều trị polyp tử cung và làm IVF. Chị được kích thích buồng trứng, chọc hút trứng và tạo được 3 phôi, mang trữ đông.
Bác sĩ phẫu thuật nội soi buồng tử cung cắt polyp, lấy mô xét nghiệm, ghi nhận viêm nội mạc tử cung mạn tính. Sau 2 tháng điều trị kháng sinh, chị được dùng thuốc chuẩn bị nội mạc tử cung theo phác đồ cá thể hóa.
Bác sĩ chuyển phôi vào tử cung đến lần thứ 2 mới thành công mang thai. Thai nhi 8 tuần, người mẹ được chẩn đoán nhiễm CMV (Cytomegalovirus) – loại virus có thể ảnh hưởng đến thai nhi. Chị Trà phải điều trị kháng sinh liều cao và thực hiện chọc ối tầm soát dị tật bẩm sinh. Suốt thời gian sau đó chị nhiều lần nhập viện vì dọa sảy thai, sinh non. Kết quả, chị sinh mổ một bé trai khỏe mạnh nặng 3,1kg ở tuần thứ 40.
Chị Thảo sau khi can thiệp mổ cắt polyp tử cung lành tính, cũng được kích thích buồng trứng, bơm tinh trùng vào buồng tử cung (IUI) 2 lần nhưng không có kết quả. Vợ chồng quyết định làm IVF. Cùng thời điểm này, chị phát hiện mắc tiểu đường type 2 nên được bác sĩ chuyên khoa Nội tiết và bác sĩ Hỗ trợ sinh sản phối hợp điều trị theo phác đồ cá thể hóa.
Bác sĩ chỉ định dùng thuốc kích trứng, chọc hút trứng, thụ tinh trong ống nghiệm và nuôi cấy thu được 9 phôi tốt. Trước chuyển phôi 1 ngày, chị Thảo đau bụng dữ dội. Bác sĩ chỉ định chụp cắt lớp vi tính (CT) kiểm tra, phát hiện chị bị viêm bao gan. Chị phải dừng chuyển phôi để điều trị kháng sinh.
Khi thể trạng ổn định, chị Thảo được chuẩn bị niêm mạc đủ điều kiện. Bác sĩ chuyển 1 phôi vào tử cung, giúp chị có thai ngay. Người mẹ nhập viện, tiêm insulin mỗi ngày và chăm sóc dinh dưỡng phù hợp nhằm kiểm soát tình trạng tiểu đường. Tuần thứ 30, chị bất ngờ chuyển dạ, sinh bé gái nặng 1,2kg, được theo dõi, chăm sóc đặc biệt tại khoa Sơ sinh. Sau hơn 1 tháng, bé được xuất viện, nặng 2,3kg.
“Sau những tháng ngày ròng rã kiên trì vượt gần 700 km từ Quảng Trị ra Hà Nội chữa hiếm muộn, tôi đã được làm mẹ”, chị Thảo chia sẻ.

Tử cung là cơ quan sinh sản quan trọng của nữ giới, nơi nuôi dưỡng và cung cấp chất dinh dưỡng cho thai nhi trong suốt thai kỳ cho đến khi bé chào đời. Tuy nhiên, bộ phận này dễ bị tổn thương, giảm khả năng sinh sản. Ngoài polyp tử cung, dị dạng buồng tử cung, u lạc nội mạc, dính buồng tử cung, viêm nội mạc tử cung, nội mạc tử cung bị thiểu dưỡng… là những bất thường tử cung thường gặp.
Bác sĩ Thắng cho biết, nhiều bệnh lý ở tử cung không có biểu hiện rõ ràng, diễn tiến âm thầm, khó phát hiện. Vì vậy phụ nữ khi kết hôn một năm chưa có thai (6 tháng với trường hợp ngoài 35 tuổi) nên đi khám để được chẩn đoán, điều trị, giúp sớm có con.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH