HÀ NỘI – Chị Lan, 32 tuổi, đi trữ trứng tình cờ phát hiện mắc hội chứng tâm thần khiến khó thiết lập hôn nhân.
Khi đến Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội (IVF Tâm Anh) để tư vấn trữ trứng, Lan cho biết cô chưa có kế hoạch kết hôn, lo ngại số lượng và chất lượng trứng suy giảm sau tuổi 35, nhưng chưa đủ quyết tâm để làm mẹ đơn thân.
Ths.BS Nguyễn Lệ Thủy cho biết qua thăm khám và các xét nghiệm cho thấy dự trữ buồng trứng của Lan còn tốt. Chỉ số AMH nằm trong giới hạn bình thường đối với lứa tuổi, số lượng nang noãn thứ cấp (AFC) khả quan, nội tiết sinh sản và sức khỏe tổng quát chưa ghi nhận bất thường ảnh hưởng đến việc trữ trứng. Theo bác sĩ Thủy, đây là thời điểm phù hợp để chị Lan cân nhắc bảo tồn khả năng sinh sản nếu chưa có kế hoạch mang thai trong vài năm tới.
Trong quá trình khai thác bệnh sử và tư vấn kế hoạch sinh sản, bác sĩ nhận thấy giữa mong muốn làm mẹ và khả năng xây dựng mối quan hệ bền vững của chị Lan tồn tại một điểm nghẽn không xuất phát từ sức khỏe sinh sản. Lan có điều kiện thuận lợi để kết hôn và sinh con như ngoại hình ưa nhìn, sức khỏe sinh sản tốt, kinh tế ổn định, mong muốn làm mẹ rõ ràng. Song chị liên tiếp chấm dứt các mối quan hệ tình cảm dù không có mâu thuẫn lớn và thường thấy ngột ngạt khi đối phương muốn gắn bó lâu dài.
Thay vì chỉ tư vấn về kỹ thuật trữ trứng, bác sĩ khuyến nghị Lan đánh giá tâm lý, sức khỏe tâm thần để tìm nguyên nhân sâu xa ảnh hưởng đến việc xây dựng gia đình và chuẩn bị cho hành trình làm mẹ trong tương lai.
Tại phòng khám tâm lý tâm thần cùng bệnh viện, chị Lan cho biết từng trải qua ba mối tình nhưng chưa mối quan hệ nào kéo dài quá một năm. Điều đáng nói, cả ba lần đều kết thúc khi không có mâu thuẫn lớn. “Khi đối phương muốn gặp nhiều hơn, nói về chuyện cưới xin tôi thấy ngột ngạt”, Lan kể.
Sau mỗi lần chia tay, Lan không đau khổ mà lập tức lao vào công việc. Tuy nhiên, vài tháng sau, chị thường xuyên mất ngủ, khó tập trung, cảm thấy trống rỗng và cô đơn. Điều khiến chị băn khoăn nhất là bản thân rất mong có một gia đình, muốn làm mẹ nhưng lại không thể gắn bó với ai.
Sau đó, Lan tiếp tục gặp gỡ nhiều người, cũng giống như những lần trước đối phương muốn tiến tới xa hơn thì Lan lại có xu hướng né tránh và chủ động chấm dứt mối quan hệ.
Theo ThS.BS Phạm Văn Dương, khoa Nội Tổng hợp, sau nhiều buổi đánh giá lâm sàng và thực hiện các thang đo tâm lý, Lan không mắc rối loạn nhân cách hay trầm cảm điển hình. Tuy nhiên, kết quả cho thấy chị có kiểu gắn bó né tránh (avoidant attachment) – một kiểu gắn bó được hình thành từ những trải nghiệm với người chăm sóc trong thời thơ ấu.

Lan kể từ nhỏ cha mẹ luôn chu cấp đầy đủ về vật chất nhưng hiếm khi thể hiện tình cảm. Việc bộc lộ cảm xúc bị xem là yếu đuối, trong khi tự lập luôn được khuyến khích. Lâu dần, Lan hình thành niềm tin rằng chỉ có thể dựa vào chính mình, không an toàn nếu phụ thuộc vào người khác. Khi trưởng thành, niềm tin này khiến chị vô thức né tránh sự thân mật trong các mối quan hệ. Càng yêu lâu, càng tiến gần đến cam kết, cô càng có xu hướng rút lui.
Trong cuộc sống hằng ngày, Lan hiếm khi chia sẻ cảm xúc, không thích nhờ người khác giúp đỡ hay chăm sóc. Khi gặp khó khăn trong công việc hoặc cuộc sống, chị luôn tự giải quyết. Mỗi lần người yêu góp ý Lan lại cảm thấy bị kiểm soát và lựa chọn chia tay.
Theo bác sĩ Dương, người gắn bó né tránh vẫn có nhu cầu được yêu thương nhưng sợ phụ thuộc, sợ mất kiểm soát hoặc tổn thương. Mâu thuẫn nội tâm khiến họ thường giữ khoảng cách cảm xúc, hạn chế chia sẻ, đề cao tính độc lập và có xu hướng rút lui khi mối quan hệ trở nên thân mật.
Bác sĩ Dương nhấn mạnh kiểu gắn bó né tránh không phải là bệnh lý tâm thần. Đây là một kiểu thích nghi tâm lý được hình thành từ trải nghiệm gắn bó với người chăm sóc từ rất sớm. Tuy nhiên, điều này ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, các mối quan hệ hoặc sức khỏe tinh thần. Người bệnh nên được đánh giá bởi chuyên gia tâm lý hoặc bác sĩ tâm thần để có hướng can thiệp phù hợp.
Lan được điều trị bằng liệu pháp tâm lý nhằm giúp nhận diện những niềm tin cốt lõi đã hình thành từ thời thơ ấu, hiểu mối liên hệ giữa các trải nghiệm cũ với hành vi trong hiện tại, đồng thời từng bước xây dựng cảm giác an toàn trong các mối quan hệ.
Quá trình trị liệu tập trung vào ba mục tiêu chính giúp Lan nhận diện và gọi tên cảm xúc thay vì kìm nén; học cách đón nhận sự hỗ trợ từ người khác thay vì luôn tự gánh vác. Bác sĩ cũng hướng dẫn thực hành giao tiếp cởi mở, duy trì sự kết nối khi mối quan hệ gần gũi hơn.
Sau gần một năm trị liệu, Lan cho biết lần đầu tiên cô có thể duy trì mối quan hệ tình cảm mà không còn thôi thúc phải rời đi mỗi khi đối phương muốn tiến xa hơn. Chị cho biết cả hai dự định kết hôn vào đầu năm 2027. “Nếu may mắn chúng tôi có thể mang thai tự nhiên. Còn nếu không đã có trứng trữ đông để thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm”, Lan nói.
Những năm gần đây, số phụ nữ độc thân đến tư vấn bảo tồn khả năng sinh sản tại IVF Tâm Anh tăng khoảng 30% mỗi năm. Theo bác sĩ Thủy đây là dấu hiệu vừa đáng mừng, vừa đáng lo bởi nhiều phụ nữ đã quan tâm đến sức khỏe sinh sản và mua ‘bảo hiểm sinh sản’ cho tương lại”, song cũng cho thấy nhiều người có sức khỏe sinh sản tốt, sự nghiệp ổn định nhưng chưa thể kết hôn hoặc chưa sẵn sàng sinh con.
Theo bác sĩ Thủy trong lĩnh vực hỗ trợ sinh sản, không ít người đến khám với mong muốn bảo tồn khả năng sinh sản hoặc điều trị vô sinh nhưng quá trình khai thác bệnh sử lại phát hiện những khó khăn về tâm lý, cảm xúc hoặc các vấn đề trong mối quan hệ. Việc đánh giá sức khỏe tâm thần khi có dấu hiệu bất thường không chỉ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn góp phần giúp người bệnh chuẩn bị tốt hơn cho hành trình xây dựng gia đình và làm cha mẹ.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH