Ông Phát, 89 tuổi, đau ngực hai tuần phát hiện nhánh mạch vành đặt stent 19 năm trước bị tái hẹp, nguy cơ tắc hoàn toàn gây nhồi máu cơ tim.

Năm 2005, ông Phát (ngụ Đồng Nai) phát hiện tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu, bệnh mạch vành, được can thiệp đặt 1 stent vào động mạch liên thất trước. Từ đó đến nay, ông tái khám và uống thuốc theo toa đều đặn, sức khỏe ổn định, không phát hiện bất thường tim mạch.
ThS.BS.CKII Võ Anh Minh, Trưởng đơn vị Can thiệp Mạch vành – Trung tâm Can thiệp mạch BVĐK Tâm Anh TP HCM cho biết cách nhập viện hai tuần, ông Phát xuất hiện cơn đau ngực khi gắng sức nhẹ, kéo dài 10-15 phút. Đôi khi cơn đau ập đến cả lúc ông nghỉ ngơi, cảm giác ngực bị đè nặng.
Đi khám tại bệnh viện, bác sĩ nghi ngờ ông mắc bệnh lý mạch vành tiến triển sau 19 năm đặt stent, chỉ định chụp mạch vành. Kết quả xác định ông bị tái hẹp trong stent. Đây là tình trạng tăng sinh lớp nội mạc làm hẹp trên 50% kích thước lòng stent, gây thiếu máu cơ tim. Tái hẹp thường gặp trong vòng 6-12 tháng sau can thiệp, đôi khi xảy ra sau 15-20 năm.
Bác sĩ Minh chia sẻ, ông Phát bị suy thận mạn độ 3, nguy cơ bệnh diễn tiến nặng thêm nếu chụp mạch vành với lượng cản quang thông thường (20 ml). Nhờ kỹ thuật Cardiac Swing, ê kíp giảm tối đa lượng thuốc cản quang đưa vào cơ thể người bệnh (10 ml), chụp được toàn bộ đoạn mạch bị hẹp. Ngoài động mạch liên thất trước tái hẹp 95% trong stent, bệnh nhân còn hẹp 80-90% động mạch vành phải và 70% động mạch mũ.
ThS.BS Phạm Hoàng Trọng Hiếu, Trung tâm Can thiệp Mạch BVĐK Tâm Anh TP HCM nhận định, toàn bộ ba nhánh mạch vành của bệnh nhân đã hẹp gần hết, việc cung cấp máu cho tim bị thiếu hụt nghiêm trọng gây ra tình trạng thiếu máu cơ tim. Đây là nguyên nhân gây ra những cơn đau thắt ngực, dọa nhồi máu cơ tim nếu không can thiệp sớm để tái thông mạch vành.
Ê kíp tiến hành nong mạch đặt stent cho ông Phát. Vì thủ phạm chính gây đau thắt ngực là đoạn liên thất trước bị tái hẹp nên bác sĩ ưu tiên làm trước nhánh này. Nhờ kỹ thuật ULC-PCI (can thiệp mạch vành với lượng cản quang tối thiểu) kết hợp hệ thống siêu âm trong lòng mạch – IVUS, bác sĩ đưa ống thông đến mạch vành bị hẹp nghẽn mà không cần bơm thuốc cản quang, tiếp đến nong bóng để giúp mạch vành giãn tối ưu.
Nhờ đó, thuận lợi đưa stent mới (kích thước 3.5 x 26 mm) vào, bung rộng stent ép chặt chỗ xơ vữa và mở thông lòng mạch. Dòng máu nuôi tim được khơi thông.

Bác sĩ Hiếu giải thích, thường khi làm thủ thuật, ê kíp phải bơm thuốc cản quang vào lòng mạch thì mới thấy được vị trí đoạn mạch bị hẹp. Nhưng vì bệnh nhân suy thận nặng, bác sĩ cố gắng không dùng quá nhiều thuốc. Không được “chỉ đường”, bác sĩ phải dựa vào kinh nghiệm, hướng đi của mạch vành, tham chiếu từ các nốt vôi hóa, hình ảnh stent trước đây, mốc đánh dấu từ siêu âm trong lòng mạch vành, từ đó ước chừng chính xác vị trí hẹp.
Tổng lượng cản quang sử dụng trong suốt 60 phút can thiệp chỉ vỏn vẹn 7 ml (một ca đặt stent thông thường dùng khoảng 50 – 100 ml cản quang). Sau thủ thuật, ông Phát hết đau ngực, thận ổn định, chức năng co bóp thất trái khá tốt sau can thiệp, xuất viện sau hai ngày.

Bác sĩ Minh cho biết tái hẹp trong stent có thể gây nhồi máu cơ tim cấp, buộc phải can thiệp lần hai hoặc phẫu thuật bắc cầu. Mọi phương pháp tái thông mạch máu đều hướng đến giảm nguy cơ này xuống mức thấp nhất. So với loại stent trần (stent không phủ thuốc) trước đây, stent phủ thuốc giúp giảm tỷ lệ tái hẹp năm đầu xuống còn 5-10%, so với 17-41% ở stent trần.
Hiện, kỹ thuật đặt stent với sự hỗ trợ của hệ thống chụp mạch vành (DSA), siêu âm trong lòng mạch vành (IVUS) và nong stent tối ưu bằng bóng cứng lớn hơn. Bác sĩ Minh cho biết so với khi đặt stent chỉ dùng kỹ thuật chụp mạch vành đơn thuần, sự kết hợp này giảm tắc cấp, giảm tái hẹp, hạn chế biến chứng và tử vong. Nhờ kỹ thuật IVUS và nong stent áp sát, nong stent lớn nhất (lên tới 110-120%) giúp tỷ lệ tái hẹp ở bệnh viện này trong năm qua đạt 0,2%, trong khi tỷ lệ thế giới cho phép là 5%.
Kỹ thuật chụp mạch DSA chỉ ghi nhận hình ảnh lòng mạch còn lại của mạch máu, không thấy được thành mạch máu. IVUS cho hình ảnh đa chiều sống động về lòng mạch và cả thành mạch máu. Nhờ vậy tối ưu hóa quá trình đặt stent, chọn được stent đường kính lớn và dài nhất, stent nở trọn hoàn toàn.
Để giảm thiểu nguy cơ tái hẹp sau đặt stent, người bệnh cần uống thuốc đầy đủ, đúng giờ theo toa của bác sĩ, không tự ý bỏ hoặc đổi thuốc; tái khám đúng lịch hẹn; giảm ăn dầu, mỡ động vật, giảm muối, tăng cường rau xanh; giảm cân nếu có thừa cân hoặc béo phì; bỏ thuốc lá và rượu bia; vận động đều đặn, tránh xa stress.
* Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH