TP.HCM – Sau 2 lần sảy thai thụ tinh ống nghiệm liên tiếp, chị Nguyệt, 40 tuổi, được phát hiện và kiểm soát nguy cơ tăng đông máu kèm viêm nội mạc tử cung mạn tính, giúp sinh con khỏe mạnh.
Chị Nguyệt kết hôn muộn, sau 2 năm chưa có con nên đến Trung tâm Hỗ trợ sinh sản, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (IVF Tâm Anh TP.HCM) thăm khám. Kết quả ghi nhận hai vòi trứng thông, siêu âm bơm nước buồng tử cung (SIS) chưa ghi nhận bất thường. Tuy nhiên, chỉ số dự trữ buồng trứng (AMH) của chị giảm chỉ còn 0,8 ng/mL (mức bình thường khoảng 2,0–6,8 ng/mL), làm giảm khả năng thụ thai tự nhiên. Sức khỏe sinh sản của người chồng bình thường. Bác sĩ tư vấn phác đồ gom noãn qua nhiều chu kỳ nhằm tích lũy số noãn, tăng cơ hội tạo phôi.
Sau 3 chu kỳ kích trứng, bác sĩ thu được 5 noãn trưởng thành, thực hiện thụ tinh bằng kỹ thuật ICSI và nuôi cấy được 2 phôi ngày 3. Do chất lượng phôi hạn chế, không thuận lợi để tiếp tục nuôi lên ngày 5, chị Nguyệt quyết định chuyển phôi. Kết quả đậu thai nhưng dừng lại ở giai đoạn thai sinh hóa.
Chị Nguyệt tiếp tục kích trứng, thu được 5 noãn trưởng thành. Nhận thấy chất lượng noãn khả quan, ThS.BS Giang Huỳnh Như, Giám đốc IVF Tâm Anh TP.HCM, tư vấn vợ chồng chị tiếp tục nuôi phôi đến giai đoạn phôi nang. Quá trình này được theo dõi liên tục bằng hệ thống Time-lapse tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI), giúp chọn lọc phôi tối ưu. Kết quả thu được 2 phôi ngày 5 và 2 phôi ngày 6.

Sau khi chuẩn bị nội mạc phù hợp, bác sĩ tiến hành chuyển một phôi ngày 5. Chị Nguyệt đậu thai lần hai. Tuy nhiên, đến tuần thứ 9, thai bất ngờ ngừng phát triển.
Sau 2 lần mất thai liên tiếp, bác sĩ Như quyết định mở rộng tầm soát toàn diện. Kết quả xét nghiệm nhiễm sắc thể đồ (Karyotype) của hai vợ chồng hoàn toàn bình thường. Tiếp tục tầm soát nhóm rối loạn đông máu di truyền (Thrombophilia), bác sĩ phát hiện chị Nguyệt mang đột biến đồng hợp tử PAI-1. Bác sĩ Như đánh giá, dù hiện chưa đủ bằng chứng khẳng định PAI-1 là nguyên nhân trực tiếp gây sảy thai, nhưng trên bệnh nhân có tiền sử sảy thai liên tiếp, đây là yếu tố nguy cơ cần kiểm soát. Thuốc chống đông dự phòng được chỉ định cho chu kỳ chuyển phôi tiếp theo.
Đồng thời, bác sĩ tiến hành nội soi buồng tử cung kiểm tra trực quan và phát hiện chị Nguyệt bị viêm nội mạc tử cung mạn tính, bệnh có thể làm thay đổi môi trường nội mạc, cản trở phôi làm tổ và phát triển.
Chị Nguyệt được điều trị kiểm soát viêm trong 2 tuần. Khi môi trường tử cung ổn định, bác sĩ Như tiến hành chuyển phôi ngày 5 còn lại, chị Nguyệt đậu thai thành công. Theo phác đồ, chị tiếp tục dùng thuốc chống đông dự phòng đến tuần thai thứ 12. Thai kỳ sau đó diễn tiến thuận lợi, ở tuần 39, chị sinh bé gái khỏe mạnh nặng 3,3 kg. Hai phôi ngày 6 còn lại được trữ đông cho kế hoạch tương lai.

Theo ThS.BS Giang Huỳnh Như, thành công của một chu kỳ IVF không chỉ phụ thuộc vào chất lượng phôi mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ môi trường tử cung và các bệnh lý nền của người mẹ. Các bất thường như polyp, u xơ dưới niêm, dính buồng tử cung, viêm nội mạc tử cung mạn tính hay lạc nội mạc tử cung đều có thể cản trở quá trình làm tổ.
Với các trường hợp sảy thai, thai lưu nhiều lần không rõ nguyên nhân hoặc thất bại chuyển phôi liên tiếp, việc mở rộng đánh giá đa yếu tố (diễn tiến di truyền, nội tiết, miễn dịch, đông máu, tử cung) giúp xây dựng phác đồ cá thể hóa, tối ưu cơ hội đón con yêu cho các cặp vợ chồng hiếm muộn.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH