Nhập viện do đau thắt ngực, ông Vũ (57 tuổi) được chẩn đoán bệnh động mạch vành 3 thân, nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Ông Vũ có tiền sử tăng huyết áp và rối loạn mỡ máu. 2 ngày trước, ông xuất hiện cơn đau tức ngực trái kèm khó thở, cơn đau tăng khi vận động. Gia đình đưa ông tới Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội thăm khám.
Theo ThS.BS Nguyễn Xuân Duy, khoa Tim mạch, kết quả chụp CT động mạch vành cho thấy cả ba nhánh chính nuôi tim của ông Vũ đều có tổn thương nặng, vôi hóa, hẹp khít lan tỏa. Nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài và không được xử trí kịp thời, có thể dẫn tới suy tim, rối loạn nhịp, nhồi máu cơ tim thậm chí ngưng tim đột ngột.
Theo bác sĩ Duy, dù hệ động mạch vành của ông Vũ có tổn thương ở nhiều nhánh, kết quả siêu âm tim cho thấy chức năng co bóp của tim vẫn được bảo tồn, chưa ghi nhận suy giảm đáng kể. Như vậy, cơ tim vẫn còn khả năng bù trừ và hồi phục tốt sau tái thông mạch máu.
Sau khi đánh giá toàn diện mức độ hẹp, vị trí tổn thương và tình trạng chung của người bệnh, bác sĩ quyết định thực hiện tái thông mạch vành bằng phương pháp đặt stent. Êkíp tiến hành nong và đặt stent tại các đoạn hẹp quan trọng thuộc ba hệ động mạch vành chính nhằm khôi phục dòng máu nuôi cơ tim, đồng thời phối hợp điều trị nội khoa tối ưu bằng thuốc chống kết tập tiểu cầu, statin và kiểm soát huyết áp.

Can thiệp diễn ra thuận lợi, các stent nở tốt, dòng chảy mạch vành được tái lập. Sau can thiệp, ông Vũ hết đau ngực, hồi phục nhanh và xuất viện sau 5 ngày.
Bệnh nhận được các bác sĩ khuyến cáo cần tuân thủ nghiêm ngặt phác đồ thuốc theo đúng chỉ định, không tự ý ngưng thuốc để tránh nguy cơ huyết khối trong stent. Đồng thời, ông Vũ được hướng dẫn kiểm soát tốt huyết áp, mỡ máu, duy trì chế độ ăn giảm muối, hạn chế chất béo bão hòa, tăng rau xanh, cá và ngũ cốc nguyên hạt. Người bệnh nên vận động nhẹ nhàng, tăng dần cường độ phù hợp với thể trạng, tránh gắng sức quá mức trong giai đoạn đầu sau can thiệp. Việc tái khám định kỳ giúp bác sĩ theo dõi hiệu quả điều trị và phát hiện sớm nguy cơ biến chứng nếu có.
Theo bác sĩ Duy, bệnh động mạch vành 3 thân là tình trạng cả ba hệ động mạch vành chính nuôi tim đều có tổn thương hẹp đáng kể do xơ vữa. Đây được xem là thể bệnh nặng vì diện tích cơ tim có nguy cơ thiếu máu rộng hơn so với tổn thương một nhánh đơn lẻ. Bệnh thường gặp ở người có các yếu tố nguy cơ tim mạch kéo dài như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu, đái tháo đường, hút thuốc lá hoặc tiền sử gia đình. Quá trình xơ vữa diễn tiến âm thầm trong nhiều năm, đến khi lòng mạch hẹp nặng hoặc mảng xơ vữa mất ổn định mới xuất hiện triệu chứng rõ rệt. Không ít trường hợp chỉ được phát hiện khi đã có tổn thương cơ tim.
Quyết định lựa chọn phương pháp điều trị còn phụ thuộc vào mức độ phức tạp của tổn thương, chức năng thất trái, bệnh lý đi kèm và đánh giá nguy cơ tổng thể. Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành từng là lựa chọn ưu tiên ở nhiều bệnh nhân bệnh mạch vành 3 thân, đặc biệt khi tổn thương phức tạp. Tuy nhiên, với sự phát triển của kỹ thuật can thiệp tim mạch qua da, stent phủ thuốc thế hệ mới và các phương tiện chẩn đoán hình ảnh trong lòng mạch, hiện nay nhiều trường hợp bệnh nhân có giải phẫu phù hợp vẫn có thể được điều trị hiệu quả bằng đặt stent, xâm lấn tối thiểu giúp hồi phục nhanh. Đặc biệt, khi can thiệp được thực hiện trên nền chức năng tim còn bảo tồn tốt, tiên lượng dài hạn của người bệnh có thể được cải thiện đáng kể.
Bác sĩ Duy khuyến cáo người trung niên, đặc biệt có các bệnh nền như tăng huyết áp, rối loạn mỡ máu hoặc đái tháo đường, nên tầm soát tim mạch định kỳ. Khi xuất hiện đau ngực, nhất là đau tăng khi gắng sức hoặc kèm khó thở, cần đi khám sớm để được xử trí kịp thời. Phát hiện và tái thông mạch vành trước khi cơ tim bị tổn thương lan rộng có thể giúp hạn chế nguy cơ nhồi máu cơ tim và suy tim về sau.
*Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH