Hà Nội – Bé Khánh, 15 tuổi, được phát hiện suy tuyến cận giáp do hội chứng DiGeorge khi điều trị hạ canxi máu trong đợt tiêu chảy cấp, bác sĩ nhiều lần điều chỉnh thuốc và liều dùng, tìm phác đồ cá thể hóa giúp kiểm soát bệnh lâu dài.
Từng phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot, một tình trạng tim bẩm sinh phức tạp, khi 10 tháng tuổi, bé Khánh thể trạng yếu, gầy gò, hơi khó khăn trong học tập, nhiều đợt viêm đường hô hấp và tiết niệu lúc nhỏ.
Cuối tháng 1, trẻ nhập khoa Nhi, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh Hà Nội trong tình trạng sốt 38,9 độ C, đau đầu, nôn, mệt mỏi, đau bụng và xuất hiện những cơn co cứng, co quắp tay chân. Xét nghiệm xác định dương tính Rotavirus, hạ canxi máu nặng, canxi ion hóa chỉ 0,83-0,87 mmol/L, trong khi giá trị bình thường khoảng 1,15-1,33 mmol/L, kèm tăng phospho và hạ magnesi. Men cơ CK tăng cao, có thời điểm lên 868 U/L, cho thấy tình trạng tổn thương cơ vân cấp tính, nguy cơ biến chứng suy thận. Kết quả chụp CT ổ bụng loại trừ viêm ruột thừa cấp.
Khi trực tiếp hội chẩn và điều trị cho trẻ, ThS.BS Đỗ Tiến Sơn nhận thấy nồng độ hormone tuyến cận giáp (PTH) của trẻ là 23 pg/mL, tuy nằm trong khoảng tham chiếu “bình thường” từ 15-65 pg/mL, nhưng lại “không phù hợp”.
Lý giải điều này, bác sĩ Sơn cho biết khi canxi máu giảm sâu, có triệu chứng trên lâm sàng, tuyến cận giáp bình thường phải tăng tiết PTH để huy động các cơ chế bù trừ như tăng tái hấp thu canxi tại thận, huy động canxi và thúc đẩy tạo vitamin D hoạt tính, giúp đưa canxi máu trở về mức ổn định. Chỉ số PTH không tăng tương xứng với mức độ hạ canxi là dấu hiệu đáp ứng sinh học bất thường, gợi ý suy tuyến cận giáp.
Sau khi rà soát lại toàn bộ bệnh sử và thu thập các dấu hiệu, bác sĩ nghi ngờ trẻ mắc hội chứng DiGeorge (còn gọi hội chứng mất đoạn nhiễm sắc thể 22q11.2).
Thay vì đi theo từng bước của xét nghiệm di truyền hoặc xét nghiệm giải trình tự tìm đột biến điểm, bác sĩ đã tư vấn gia đình và chỉ định xét nghiệm di truyền trúng đích CNV khảo sát các vi mất đoạn và lặp đoạn trên 23 nhiễm sắc thể. Kết quả xác nhận trẻ bị vi mất đoạn tại vị trí 22q11.2, được phân loại gây bệnh, đúng như dự đoán.

Song song điều trị tiêu chảy, Khánh được bổ sung canxi và calcitriol, một dạng vitamin D hoạt tính. Mục tiêu là duy trì nồng độ canxi ở ngưỡng thấp của mức bình thường, kiểm soát lượng canxi bài tiết qua nước tiểu để hạn chế nguy cơ lắng cặn, hình thành sỏi và tổn thương thận. Sau 7 ngày điều trị, các cơn co quắp tay chân, dị cảm và chuột rút biến mất, men CK trở về mức bình thường, trẻ ổn định và được xuất viện.
Tuy nhiên, việc kiểm soát suy tuyến cận giáp chưa dừng lại sau khi các triệu chứng cấp tính thuyên giảm. Những tuần tiếp theo, bác sĩ nhiều lần điều chỉnh loại thuốc và liều dùng theo đáp ứng thực tế của trẻ. Có thời điểm dù uống thuốc đều đặn, canxi máu vẫn chưa đạt mục tiêu, trẻ phải dùng tới 14 viên thuốc mỗi ngày. Để giảm gánh nặng điều trị, bác sĩ chuyển sang chế phẩm canxi có hàm lượng cao hơn, giúp giảm số lần uống từ 8 xuống 4 lần mỗi ngày, qua đó tăng khả năng tuân thủ trong quá trình điều trị kéo dài.
Khi canxi máu ổn định, nguy cơ chuyển sang tình trạng thừa canxi hoặc tăng canxi niệu lại trở thành vấn đề cần theo dõi. Một lần tái khám, tỷ lệ canxi/creatinin niệu của trẻ tăng lên 0,84 mmol/mmol, vượt ngưỡng an toàn 0,7. Bác sĩ giảm liều canxi, hướng dẫn trẻ uống đủ nước mỗi ngày và vận động nhẹ. Sau một tháng, tỷ lệ canxi/creatinin niệu trở về mức bình thường. Trẻ hết hoàn toàn cảm giác châm chích, tê bì tay chân, vận động bình thường.
Khó khăn tiếp theo xuất hiện khi Khánh cần phẫu thuật thay van động mạch phổi do hở van mức độ 4/4, kèm suy tim phải. Theo bác sĩ Sơn, phẫu thuật là một stress sinh lý mạnh, có thể làm rối loạn cân bằng canxi và kích hoạt hạ canxi cấp. Nếu không được dự phòng và xử trí kịp thời, bệnh nhi có thể xuất hiện co cứng cơ, co giật, co thắt thanh quản gây ngừng thở, đe dọa tính mạng.
Ba ngày trước phẫu thuật, bác sĩ chủ động tăng liều thuốc. Gia đình cũng được hướng dẫn thông báo cho bác sĩ gây mê hồi sức và bác sĩ tim mạch về tình trạng suy tuyến cận giáp cùng toàn bộ thuốc trẻ đang sử dụng.
Nhờ phối hợp giữa các chuyên khoa và tuân thủ phác đồ, Khánh trải qua cuộc phẫu thuật an toàn. Sau mổ, nhu cầu canxi của cơ thể thay đổi khiến canxi máu và canxi niệu có thời điểm tăng cao. Bác sĩ Sơn tiếp tục theo dõi sát và điều chỉnh thuốc. Hơn 10 lần tái khám trong 6 tháng với nhiều lần tăng, giảm liều và đổi chế phẩm giúp bác sĩ từng bước tìm được mức điều trị phù hợp với trẻ, giảm liều calcitriol về liều duy trì và ngưng bổ sung canxi đường uống…
Hiện sức khỏe Khánh ổn định. Tuy nhiên, tình trạng hạ canxi máu có thể tái diễn hoặc nặng lên khi nhu cầu cơ thể thay đổi hoặc mắc bệnh cấp tính như nhiễm trùng, sốt… Gia đình vẫn cần tuân thủ thuốc, nhận biết dấu hiệu hạ canxi và chủ động thông báo với bác sĩ về tình trạng bệnh trước các can thiệp y tế.

Theo bác sĩ Sơn, hội chứng DiGeorge là một trong những hội chứng vi mất đoạn nhiễm sắc thể phổ biến, ước tính gặp ở khoảng 1/4.000-6.000 trẻ sinh sống. Khoảng 90-95% trường hợp mất đoạn 22q11.2 là bất thường mới phát sinh, xảy ra ngẫu nhiên trong quá trình hình thành phôi thai, nên bố mẹ thường không mang bất thường. Khoảng 5-10% trường hợp được di truyền từ cha hoặc mẹ mang mất đoạn 22q11.2. Ngoài ra, một số trường hợp hiếm có thể liên quan khảm tế bào dòng sinh dục, khi chỉ một tỷ lệ tế bào trứng hoặc tinh trùng mang bất thường, khiến cha hoặc mẹ không có biểu hiện rõ nhưng vẫn có khả năng truyền cho con.
Mất đoạn 22q11.2 làm thiếu một đoạn vật chất di truyền chứa nhiều gene tham gia quá trình hình thành và phát triển các cơ quan từ giai đoạn phôi thai. Trong đó, gene TBX1 có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của tim, tuyến cận giáp, tuyến ức và một số cấu trúc vùng đầu mặt.
Biểu hiện bệnh đa dạng, tùy thuộc vào cơ quan bị ảnh hưởng, mức độ nghiêm trọng và có thể thay đổi theo từng giai đoạn phát triển. Ở trẻ nhỏ, các dấu hiệu thường gặp gồm dị tật tim bẩm sinh, hạ canxi máu, nhiễm trùng tái diễn do bất thường miễn dịch, vấn đề về cấu trúc vòm họng hoặc chậm phát triển. Trong khi đó, suy tuyến cận giáp có thể biểu hiện âm thầm trong nhiều năm và chỉ được phát hiện khi cơ thể gặp yếu tố thúc đẩy như nhiễm trùng, sốt, nôn, tiêu chảy hoặc phẫu thuật. Khi lớn hơn, trẻ có thể xuất hiện khó khăn học tập, ngôn ngữ, hành vi và một số vấn đề sức khỏe tâm thần.
Hiện hội chứng DiGeorge chưa có phương pháp điều trị đặc hiệu, việc điều trị chủ yếu nhằm kiểm soát từng biểu hiện và biến chứng. Theo bác sĩ Sơn, trẻ mắc bệnh cần được quản lý đa chuyên khoa tim mạch, nội tiết, miễn dịch, di truyền, tâm thần, trị liệu ngôn ngữ… và theo dõi lâu dài, tùy biểu hiện của người bệnh. Điều trị cần được cá thể hóa bởi cùng một hội chứng nhưng biểu hiện và nguy cơ biến chứng ở mỗi trẻ không giống nhau.
Trẻ vẫn có thể kết hôn và sinh con khi trưởng thành. Hiện các phương pháp hỗ trợ sinh sản kết hợp sàng lọc di truyền phôi tiền làm tổ (PGT-M) có thể giúp người mang đột biến sinh con mà không mang khiếm khuyết di truyền.
Bác sĩ Sơn khuyến cáo, thai phụ nên thực hiện sàng lọc di truyền trước sinh (NIPT) ở tuần 12 thai kỳ để phát hiện sớm nguy cơ thai nhi mắc hội chứng DiGeorge. Trường hợp trẻ có nhiều bất thường sức khỏe như dị tật tim bẩm sinh, hạ canxi máu, nhiễm trùng tái diễn hoặc khó khăn phát triển, học tập, phụ huynh nên đưa bé khám chuyên khoa Nhi – Nội tiết – Di truyền và cân nhắc xét nghiệm di truyền để tìm nguyên nhân. Phát hiện bệnh sớm giúp trẻ được đánh giá đầy đủ nguy cơ, theo dõi các cơ quan liên quan để can thiệp kịp thời, đồng thời có kế hoạch đồng hành lâu dài cùng trẻ khi trưởng thành và lập gia đình.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH