Ông Thiện (50 tuổi, An Giang) ho khạc đàm nhiều về đêm, buổi sáng có đàm lẫn máu và sụt 2 kg sau vài tháng. CT ngực phát hiện một hang lớn trong phổi trái, bên trong có khối hình lục lạc khoảng 1,5 cm. Người bệnh từng phẫu thuật cắt u nấm phổi 10 năm trước.
Ông Thiện đến khoa Nội Tổng hợp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở 2B Phổ Quang, P.Tân Sơn Hòa – Q.Tân Bình cũ), khi tình trạng ho khạc đàm kéo dài nhiều tháng. Ban đầu, ông không nghĩ những cơn ho về đêm và vài lần khạc đàm lẫn máu có thể liên quan đến bệnh phổi từng điều trị 10 năm trước.
Kết quả CT ngực cho thấy thùy trên phổi trái có một hang lớn kích thước khoảng 6 x 6 x 7,6 cm, bên trong chứa một khối bất thường hình lục lạc khoảng 1,5 cm. Đây là hình ảnh gợi ý bệnh u nấm phổi. Bên cạnh hang còn có các tổn thương dạng đông đặc, kính mờ và dày màng phổi, là những hình ảnh của bệnh lý đang diễn tiến.

Thạc sĩ, bác sĩ chuyên khoa I Nguyễn Thanh Thùy, khoa Nội Tổng hợp, cho biết để củng cố cho chẩn đoán bệnh lý nấm phổi, người bệnh được xét nghiệm kháng thể IgG Aspergillus trong máu và các xét nghiệm đàm để loại trừ các tác nhân khác. Kết quả xét nghiệm cùng với hình ảnh CT ngực cho thấy phù hợp với chẩn đoán bệnh aspergillus phổi mạn tính dạng hang (CCPA).
Điểm đặc biệt trong trường hợp của ông Thiện không đơn thuần là một khối nấm xuất hiện trở lại sau 10 năm mà nấm đang phát triển bên trong một hang bất thường của phổi.
U nấm phổi hình thành khi nấm Aspergillus cư trú trong một hang có sẵn trong phổi. Dạng tổn thương này có thể hình thành sau lao phổi, nhiễm trùng, các bệnh phổi mạn tính hoặc những thay đổi cấu trúc phổi sau can thiệp, phẫu thuật.
Có thể hình dung hang phổi như một “căn phòng” bị bỏ lại trong nhu mô phổi. Khi bên trong có đủ chất nhầy, dịch tiết và mảnh vụn tế bào, các thành phần này ứ đọng và khó có thể đào thải. Khi chúng ta hít các bào tử nấm Aspergillus từ môi trường vào phổi đến các hang này, chúng phát triển thành các sợi nấm và bám vào thành hang, kết hợp với các chất hoại tử có sẵn trong hang, phát triển và kết thành một khối nấm.
Với người từng phẫu thuật u nấm phổi, cấu trúc phổi sau điều trị có thể không còn giống ban đầu. Những thay đổi về giải phẫu hoặc các vùng bất thường còn lại có thể trở thành vị trí thuận lợi để nấm cư trú. Điều này lý giải vì sao u nấm có thể được phát hiện sau nhiều năm, ngay cả khi người bệnh từng điều trị trước đó.
Theo bác sĩ Thùy, vì vậy, không nên chỉ nhìn trường hợp này theo hướng “bệnh tái phát” mà cần đánh giá cả cấu trúc phổi và nguyên nhân tạo điều kiện cho nấm tồn tại. Người bệnh sống ở môi trường nông thôn, thường xuyên tiếp xúc với đất, bụi, lá cây mục hoặc vật chất hữu cơ, hay trong môi trường ẩm thấp, gần các công trình xây dựng cũng có thể tăng phơi nhiễm với bào tử nấm.

U nấm phổi có thể tồn tại trong thời gian dài mà ít hoặc không gây triệu chứng. Khi khối nấm phát triển hoặc ảnh hưởng đến đường thở, người bệnh có thể ho kéo dài, khạc đàm, khó thở hoặc ho ra máu.
Ở ông Thiện, triệu chứng ho khạc đàm nhiều về đêm, đàm lẫn máu vào buổi sáng và sụt cân là những dấu hiệu khiến bác sĩ cần kiểm tra kỹ thay vì chỉ điều trị triệu chứng ho.
Sau khi xác định tổn thương, bác sĩ Tâm Anh lựa chọn điều trị nội khoa bằng thuốc kháng nấm, kết hợp kiểm soát các triệu chứng hô hấp và theo dõi diễn tiến trên lâm sàng, hình ảnh học. Người bệnh đáp ứng tốt, các triệu chứng cải thiện và được hướng dẫn tuân thủ điều trị kháng nấm kéo dài ít nhất 6 tháng, bên cạnh các bài tập vật lý trị liệu hô hấp về hít thở và tống đàm.
Việc điều trị u nấm phổi không chỉ phụ thuộc vào việc có khối nấm hay không mà còn cần đánh giá kích thước, vị trí tổn thương, mức độ ảnh hưởng đến phổi, triệu chứng và nguy cơ biến chứng, đặc biệt là chảy máu đường hô hấp. Với những trường hợp có chỉ định khác, bác sĩ có thể cân nhắc các phương án can thiệp phù hợp.
Bác sĩ Thùy cho biết người từng mắc u nấm phổi cần lưu ý các triệu chứng mới xuất hiện hoặc tăng dần như ho kéo dài, khạc đàm nhiều, khạc máu, khó thở hoặc sụt cân. Những biểu hiện này cần được kiểm tra để xác định tổn thương đang ổn định, tiến triển hay xuất hiện tổn thương mới, từ đó lựa chọn cách điều trị phù hợp.
Người có tiền sử bệnh phổi hoặc từng phẫu thuật phổi cũng nên hạn chế tiếp xúc kéo dài với đất, lá cây mục, phân hữu cơ, bụi và khu vực đang xây dựng; giữ nhà cửa khô thoáng, xử lý sớm nơi có nấm mốc. Không tự ý sử dụng corticoid hoặc thuốc ức chế miễn dịch khi chưa có chỉ định, đồng thời cần kiểm soát tốt các bệnh phổi nền và tái khám theo lịch.
Trường hợp của ông Thiện cho thấy một vấn đề ít được chú ý sau khi điều trị bệnh phổi, những thay đổi về cấu trúc phổi vẫn có thể tồn tại trong nhiều năm. Chính những “khoảng trống” đó có thể trở thành nơi một loại nấm trong môi trường tìm đến và cư trú. Vì vậy, với người từng có bệnh phổi hoặc phẫu thuật phổi, những triệu chứng tưởng như đơn giản như ho kéo dài hay khạc máu không nên bị bỏ qua.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH