Nhập viện trong tình trạng sốc, huyết áp tụt sâu, toan chuyển hóa nặng, chị Thương (40 tuổi) được xác định có huyết khối bít nhiều nhánh động mạch phổi hai bên, phải can thiệp khẩn cấp giữ tính mạng.
“Người tím tái, cơ thể co giật từng cơn trong khi vẫn đang đeo mask thở oxy,… mọi thứ đều rối bời và hoảng loạn”, anh Toàn – chồng của chị Thương suýt không kìm được nước mắt khi nhớ lại cảnh tượng đưa vợ từ vùng biên giới, cửa khẩu Xa Mát (Tây Ninh) trên đường đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Sơn Hoà – Q.Tân Bình cũ).
Hai tháng trước, chị Thương – một người tự tin về sức khỏe của mình, bỗng cảm thấy cơ thể dần yếu đi, mệt mỏi kéo dài, thường xuyên ho sốt… Trong thời gian hai tháng đó, chị lần lượt đi khám khoảng 10 bệnh viện với nhiều chẩn đoán khác nhau như viêm phổi, giảm tiểu cầu vô căn,… Trước ngày đi cấp cứu, chị vừa xuất viện sau gần một tuần điều trị viêm phổi ở một bệnh viện. Vài tiếng sau khi về nhà, chị ngã quỵ trong nhà vệ sinh, khó thở, chỉ kịp gọi người nhà trước khi rơi vào trạng thái mê man.
Người chồng sau khi phát hiện ra bất thường liền lập tức đưa vợ đi cấp cứu ở bệnh viện địa phương. Sau đó, chị Thương được chuyển cấp cứu tới Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM.
“Gia đình xem đây là cứu cánh cuối cùng”, anh Toàn nói. Người đàn ông với vẻ ngoài gai góc, cứng rắn nói như sắp khóc khi hồi tưởng lại hành trình đưa vợ đi cấp cứu.
Tại khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, BS.CKI Dương Phạm Văn Thanh, đánh giá các chỉ số sinh tồn cho thấy tình trạng sốc rõ rệt. Cụ thể, huyết áp chỉ 94/56 mmHg rồi nhanh chóng tụt xuống 86/60 mmHg, mạch nhanh 130-132 lần/phút, nhịp thở 23 lần/phút, người bệnh lơ mơ, tay chân lạnh. Đây là dấu hiệu suy tuần hoàn ngoại vi nặng, theo bác sĩ Thanh.
Các xét nghiệm ban đầu nhanh chóng cho thấy tình trạng nguy kịch với khí máu động mạch ghi nhận pH (độ acid – kiềm của máu, thông thường 7,45) là 7,22, bicarbonate (chất trung hòa acid, pH) chỉ 9,4 mmol/L (thông thường khoảng 22-26 mmol/L) và lactate (chất tăng lên khi cơ thể bị thiếu oxy) tăng vọt tới 15 mmol/L (thông thường dưới 2 mmol/L)… đây là những biểu hiện của tình trạng toan chuyển hóa nặng do sốc. Công thức máu cho thấy bạch cầu tăng 21,6 G/L, tiểu cầu giảm sâu còn 45 G/L, trong khi D-dimer (chỉ số gợi ý huyết khối) tăng rất cao tới 16, gợi ý tình trạng rối loạn đông máu và hình thành huyết khối lan rộng. Đồng thời, men tim Troponin tăng đến 610 ng/L, đặt ra nghi ngờ tổn thương cơ tim cấp.
Ngay trong giờ đầu tiên nhập viện, người bệnh được nhanh chóng chuyển tới khoa Hồi sức tích cực và Chống độc (ICU) và được ê-kíp xử trí hồi sức tích cực với truyền dịch, vận mạch liều cao, kháng sinh phổ rộng và hỗ trợ hô hấp bằng thở oxy dòng cao HFNC với lưu lượng 40 lít/phút, FiO2 (tỷ lệ oxy người bệnh hít vào) là 40%. Song song đó, siêu âm tim tại giường ghi nhận phân suất tống máu (EF) giảm còn khoảng 40%, thất phải giãn – một dấu hiệu quan trọng gợi ý quá tải áp lực phổi.
Kết quả chụp CT scan xác định người bệnh bị thuyên tắc động mạch phổi hai bên, trong đó nhiều nhánh bị tắc hoàn toàn. Đây là tình trạng đặc biệt nguy hiểm khi huyết khối làm tắc dòng máu qua phổi, gây suy tim cấp và có thể dẫn đến tử vong nhanh chóng nếu không can thiệp kịp thời.
Ê-kíp quyết định sử dụng thuốc tiêu sợi huyết trong 2 giờ. Đây là phương án có thể cứu sống nhưng đi kèm nguy cơ xuất huyết nặng, đặc biệt trong bối cảnh người bệnh đang giảm tiểu cầu và rối loạn đông máu.
Sau tiêu sợi huyết, huyết động cải thiện rõ rệt khi huyết áp tăng lên 120/75 mmHg, nhu cầu vận mạch giảm nhanh rồi ngưng hoàn toàn, SpO2 đạt 100% với hỗ trợ oxy. Tuy nhiên, người bệnh vẫn còn khó thở, nhịp thở duy trì cao khoảng 30-32 lần/phút (ngưỡng bình thường 12-20 lần/phút), cho thấy tình trạng tắc mạch chưa được giải quyết triệt để.

Các bác sĩ tiếp tục hội chẩn đa chuyên khoa và chỉ định can thiệp nội mạch khẩn cấp. Chị Thương được gửi gấp tới phòng DSA. BS.CKII Thi Văn Gừng, Trưởng đơn vị Can thiệp nội mạch, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp kiêm Phó Giám đốc Trung tâm Can thiệp mạch, cho biết hình ảnh từ hệ thống chụp mạch số hoá xoá nền DSA ghi nhận thuyên tắc hoàn toàn các nhánh thùy và phân thùy của động mạch phổi phải, và tắc bán phần hầu hết các nhánh bên trái. Ê-kíp can thiệp sử dụng hệ thống ống thông chuyên dụng để hút huyết khối, thu được nhiều mảnh huyết khối lớn.
Kết quả sau can thiệp cho thấy tái thông gần hoàn toàn động mạch phổi trái và nhiều nhánh quan trọng bên phải.
Bác sĩ Gừng giải thích thuyên tắc phổi có thể do huyết khối từ hệ tĩnh mạch sâu ở chi dưới hoặc vùng chậu di chuyển lên phổi gây tắc từ nhánh lớn đến nhánh nhỏ của động mạch phổi. Trong một số trường hợp nặng là do có tắc nhánh lớn, các biện pháp can thiệp như hút huyết khối hoặc tiêu sợi huyết có thể được chỉ định tùy mức độ.
Khi một cục huyết khối mắc kẹt trong động mạch phổi, dòng máu từ tim phải bị cản trở, làm gián đoạn quá trình tưới máu phổi để trao đổi khí. Hai hậu quả là xảy ra đồng thời là giảm oxy máu do phổi không được tưới máu hiệu quả và tăng đột ngột áp lực lên thất phải, khiến buồng tim phải quá tải, giãn ra và có thể dẫn đến suy tim phải cấp tính. Trong những trường hợp nặng có thể gây tụt huyết áp, sốc và tử vong nhanh chóng.
Triệu chứng của thuyên tắc phổi thường không đặc hiệu, nhưng biểu hiện điển hình nhất là khó thở xuất hiện đột ngột, đau ngực, tim đập nhanh. Ở mức độ nhẹ, bệnh có thể âm thầm, nhưng ở thể nặng người có thể rơi vào suy hô hấp và sốc chỉ trong vài giờ. Đây là một tình trạng cấp cứu nội khoa khẩn cấp, vì nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời (kháng đông, tiêu sợi huyết hoặc can thiệp lấy huyết khối), tỷ lệ đột tử là rất cao. Ngược lại, nếu phát hiện sớm và điều trị đúng, khả năng hồi phục có thể rất tốt, theo bác sĩ Gừng.
Sau thủ thuật, tình trạng người bệnh cải thiện nhanh chóng với huyết áp ổn định quanh 110-130/70 mmHg, SpO2 duy trì 99-100%. Siêu âm tim ngày hôm sau cho thấy chức năng phục hồi với EF tăng lên 64-66%.

Dù vượt qua giai đoạn nguy kịch, người bệnh vẫn phải đối mặt với nhiều biến chứng như thiếu máu, giảm tiểu cầu kéo dài, xuất huyết dưới da tại vị trí tiêm truyền và can thiệp. Người bệnh được truyền máu, tiểu cầu và tiếp tục điều trị kháng đông, corticoid, kháng sinh, cùng các biện pháp hồi sức tích cực khác. Sau 2 tuần điều trị, chị Thương được xuất viện với tình trạng ổn định, sức khỏe tốt.
Bác sĩ khuyến cáo người dân, đặc biệt là những người có tiền sử bệnh lý mạn tính, nhiễm trùng nặng hoặc phải nằm kéo dài, cần theo dõi sát các triệu chứng bất thường sau xuất viện. Việc khám sức khỏe định kỳ, tầm soát nguy cơ huyết khối bằng các phương pháp xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh như chụp CT, MRI… đóng vai trò quan trọng trong phát hiện sớm các biến chứng nguy hiểm, giúp can thiệp kịp thời và giảm thiểu nguy cơ tử vong.
*Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH