Tuấn, 17 tuổi, mắc dị tật lõm và lồi ngực bẩm sinh, gây chèn ép tim phổi, thường xuyên ngất xỉu khi vận động, được phẫu thuật tái tạo thành công.
PGS.TS.BS Vũ Hữu Vĩnh, Giám đốc Trung tâm Ngoại Lồng ngực – Mạch máu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM, cho biết đây là trường hợp dị dạng lồng ngực phức tạp. Người bệnh mắc thể lồi ngực 1/3 dưới (mũi ức), cộng với lõm một bên. Theo phó giáo sư Vĩnh, khi lồng ngực lồi lên ở vị trí này, các vùng xung quanh sẽ bị móp vào, tạo thành “khe núi” khiến tim bị chèn ép bên trong. Nếu để lâu, tình trạng không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến thẩm mỹ mà còn làm giảm khả năng tuần hoàn, hô hấp, suy giảm chất lượng cuộc sống, phải phẫu thuật để điều trị.
Suốt 8 năm qua, Tuấn không thể tham gia trọn vẹn bất kỳ môn thể thao nào do thể trạng yếu, thường xuyên hụt hơi vì dị tật lồng ngực. Em thường xuyên bị mệt, thậm chí ngất xỉu mỗi khi vận động mạnh. Gia đình nhiều lần được giáo viên báo tin em ngất xỉu trong giờ thể dục.
Suốt 8 năm qua, gia đình đưa Tuấn đi khám nhiều nơi nhưng việc áp dụng các loại nẹp ngoài cũng không đạt hiệu quả, thậm chí còn khiến Tuấn chịu nhiều đau đớn trong quá trình điều trị.

Phó giáo sư Vĩnh lý giải, việc ép ngực bằng nẹp ngoài đơn thuần không thể giải quyết được tình trạng vừa lồi vừa lõm, trái lại còn tiềm ẩn nguy cơ cao gây tổn thương tim. Khi xương ức bị biến dạng lồi lên, cấu trúc lồng ngực tạo thành một khe hẹp khiến tim bị chèn ép, bóp nghẹt ngay trong lồng ngực. Đặc biệt, trong quá trình phẫu thuật, nếu kỹ thuật không chính xác và cố ép vùng lồi xuống mà không có biện pháp hỗ trợ từ bên dưới, áp lực này sẽ tác động trực tiếp vào tim, có nguy cơ cao xuyên thủng cơ tim, dẫn đến tử vong ngay trên bàn mổ.
Để giải quyết, êkíp thực hiện phẫu thuật tạo hình lồng ngực. Thông qua các đường mổ nhỏ (khoảng 5 cm) ở hai bên nách, các bác sĩ tiến hành bóc tách mô liên kết dưới xương ức và các điểm dính, giải phóng hoàn toàn sự co kéo của cơ và màng phổi, tạo khoảng trống an toàn giữa thành ngực với tim và phổi. Sau đó, êkíp luồn các thanh kim loại chuyên dụng, có tính đàn hồi cao vào dưới xương sườn, cố định thanh bằng hệ thống khóa chuyên dụng ở cả hai phía thành ngực, tạo thành bộ khung vững chắc giúp nâng toàn bộ cấu trúc lồng ngực lên.
Tiếp đó, một thanh đẩy được bố trí ở phía trước, đóng vai trò là “điểm tựa” để kiểm soát, tạo lực ấn ngược chiều lên vùng lồi. Việc tinh chỉnh lực đẩy được thực hiện dưới sự hỗ trợ của hình ảnh nội soi thời gian thực, đảm bảo lồng ngực trở về hình dạng cân đối tự nhiên mà không gây tổn thương cho tim và các mạch máu lớn. Sau cùng, êkíp thực hiện kiểm tra áp lực trong lồng ngực và khả năng giãn nở của phổi ngay trên bàn mổ, đảm bảo sự an toàn và hiệu quả chức năng hô hấp sau phẫu thuật.

Sau mổ, sức khỏe Tuấn ổn định, không ghi nhận biến chứng, được xuất viện sau 4 ngày. Phó giáo sư Vĩnh cho biết, với phương pháp này, sau khoảng 3 năm khi rút thanh kim loại, lồng ngực người bệnh sẽ cân đối như bình thường.

Phó giáo sư Vĩnh khuyến cáo, dị dạng lồng ngực là bệnh lý bẩm sinh khá phổ biến, cần được chẩn đoán sớm và có phương pháp can thiệp phù hợp để hạn chế biến chứng. Về thời điểm phẫu thuật, phó giáo sư lưu ý can thiệp sớm khi trẻ còn nhỏ (từ 8-12 tuổi) là tối ưu nhất, bởi lúc này khung xương còn mềm, dễ nắn chỉnh và khả năng hồi phục, phát triển của lồng ngực đạt kết quả cao nhất. Nếu để bệnh kéo dài sẽ khiến cấu trúc xương trở nên cứng chắc, gây khó khăn cho kỹ thuật chỉnh hình, đồng thời làm giảm hiệu quả thẩm mỹ và chức năng hô hấp của người bệnh về sau.
* Tên người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH