Ho ra máu, nhiều nhánh mạch máu tăng sinh trong phổi phải được bác sĩ lần theo trên hình ảnh DSA và nút mạch cầm máu. Sau can thiệp, nguồn chảy máu được kiểm soát.
Rạng sáng, anh Dĩ, 39 tuổi, đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P.Tân Sơn Hòa – Q.Tân Bình cũ) trong tình trạng mệt mỏi, ho nhiều, khạc ra máu tươi lẫn máu cục.
Triệu chứng xuất hiện khoảng một ngày trước và tăng dần. Lượng máu mỗi lần ho cũng nhiều hơn khiến anh đến viện cấp cứu. Người bệnh không có bệnh nền đáng chú ý.
Bác sĩ CKI Dương Phạm Văn Thanh, khoa Cấp cứu, cho biết trước tình trạng ho ra máu, ê-kíp phải nhanh chóng xác định máu xuất phát từ đâu, bởi nếu lượng máu tiếp tục tăng, máu có thể tràn vào đường thở, gây tắc nghẽn và ảnh hưởng hô hấp.

Bác sĩ chỉ định chụp CT ngực bằng hệ thống CT 1975 lát cắt tại bệnh viện để khảo sát chi tiết nhu mô phổi và các tổn thương liên quan. Hình ảnh cho thấy tại thùy trên phổi phải có một đám đông đặc kích thước khoảng 37 x 25 x 27 mm. Bên trong tổn thương có vùng hoại tử hóa lỏng tạo thành hang chứa bóng khí, thành phế quản dày và ứ dịch.
Xung quanh tổn thương xuất hiện các vùng kính mờ và hình ảnh Tree-in-bud, một dạng tổn thương trên CT thường liên quan đến các tiểu phế quản và đường dẫn khí nhỏ. Các tổn thương kính mờ cũng rải rác ở thùy giữa và thùy dưới phổi phải. Những hình ảnh này gợi ý phổi đang có tổn thương nhiễm trùng, đồng thời đặt ra câu hỏi về nguồn gây chảy máu.
Theo bác sĩ, khi một vùng phổi bị tổn thương kéo dài, hệ thống mạch máu tại đây có thể thay đổi để tăng lượng máu đến nuôi vùng tổn thương. Các động mạch phế quản có thể giãn lớn, tăng sinh và hình thành những nhánh mạch bất thường.
Những mạch này ngoằn ngoèo, thành mỏng và dễ tổn thương hơn, có thể trở thành nguồn gây chảy máu vào đường thở. Bình thường, phổi nhận máu từ hai hệ thống chính. Động mạch phổi đưa máu đến phổi để trao đổi khí, trong khi động mạch phế quản đưa máu giàu oxy đến nuôi phế quản và một phần mô phổi.

Khi phổi bị tổn thương kéo dài, các động mạch phế quản có thể tăng sinh, giãn ngoằn ngoèo và tăng tưới máu cho vùng bệnh. Vì vậy, bài toán lúc này không chỉ là tìm tổn thương trong phổi mà phải xác định các nhánh mạch bất thường liên quan đến tình trạng chảy máu để kiểm soát nguồn máu.
Ê-kíp Cấp cứu hội chẩn khoa Nội tổng hợp và Đơn vị Can thiệp nội mạch của Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM. Hình ảnh phổi nghi ngờ bệnh nhiễm trùng, chưa loại trừ lao phổi. Tuy nhiên, trong bối cảnh người bệnh đang ho ra máu, ưu tiên trước mắt là kiểm soát tình trạng chảy máu, song song với tiếp tục tìm nguyên nhân.
“Người bệnh đang ho ra máu nên việc cần làm trước là tìm và khóa nguồn chảy máu”, bác sĩ Thanh nói.
Các bác sĩ quyết định chụp mạch số hóa xóa nền (DSA) để khảo sát hệ thống mạch máu cấp cho vùng phổi tổn thương.
Bác sĩ CKI Nguyễn Trung Đức, Đơn vị Can thiệp nội mạch, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp cho biết, với DSA, thuốc cản quang được bơm qua ống thông vào động mạch cần khảo sát, giúp các nhánh mạch hiện rõ trên màn hình. Từ những nhánh lớn, bác sĩ lần theo đường đi của mạch đến các nhánh nhỏ nằm sâu quanh vùng tổn thương.
Hình ảnh DSA cho thấy nhiều nhánh động mạch phế quản tăng sinh, giãn ngoằn ngoèo, tập trung về vùng tổn thương ở thùy trên phổi phải. Các mạch bất thường nhận máu từ nhiều nhánh động mạch phế quản – liên sườn phải và thân chung động mạch phế quản. Các dấu hiệu bất thường trên DSA giúp ê-kíp xác định những nhánh mạch cần can thiệp.
Đây là nút thắt của ca bệnh, khi mạch máu nằm sâu trong lồng ngực, lại phân nhánh phức tạp; bác sĩ phải tiếp cận đúng nhánh mạch mục tiêu mà hạn chế ảnh hưởng đến những mạch không liên quan.
Ê-kíp đưa vi ống thông chọn lọc vào sâu từng nhánh mạch tăng sinh. Khi đầu ống thông tiếp cận đúng vị trí, bác sĩ bơm vật liệu nút mạch để làm tắc chọn lọc các nhánh mạch bất thường.
Chụp kiểm tra ngay sau can thiệp cho thấy các nhánh mạch tăng sinh mục tiêu đã được bít tắc, nguồn cấp máu bất thường vào vùng tổn thương được kiểm soát.
Nguồn chảy máu được khóa lại bằng phương pháp can thiệp nội mạch, chưa cần phẫu thuật mở lồng ngực. Sau can thiệp, tình trạng ho ra máu giảm và được kiểm soát. Anh Dĩ tiếp tục được theo dõi tại khoa Nội tổng hợp.
Sau khi kiểm soát tình trạng chảy máu, các bác sĩ tiếp tục tìm nguyên nhân gây tổn thương phổi và tình trạng tăng sinh mạch máu bất thường. Các xét nghiệm chuyên sâu sau đó xác định anh Dĩ mắc lao phổi.
Theo bác sĩ, tổn thương do lao kéo dài có thể làm thay đổi hệ thống mạch máu tại vùng phổi bệnh. Các động mạch phế quản tăng sinh, giãn và trở nên dễ tổn thương, từ đó có thể gây chảy máu vào đường thở và biểu hiện bằng ho ra máu.
Người bệnh được điều trị lao phổi theo phác đồ, đồng thời tiếp tục theo dõi tình trạng ho ra máu và tổn thương phổi. Sau điều trị, triệu chứng giảm dần. Người bệnh được hẹn tái khám, đánh giá đáp ứng điều trị và theo dõi nguy cơ chảy máu tái phát.
Theo các bác sĩ, ho ra máu có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ nhiễm trùng đường hô hấp, tổn thương phổi kéo dài đến các bất thường mạch máu. Trong đó, lao phổi là một nguyên nhân cần được lưu ý khi người bệnh ho ra máu kéo dài hoặc tái diễn.
Khi ho ra máu nhiều, lượng máu tăng nhanh, tái diễn hoặc kèm khó thở, đau ngực, chóng mặt, mệt lả, người bệnh cần đến cơ sở y tế sớm. Việc xác định đúng nguồn chảy máu có ý nghĩa quan trọng trong lựa chọn phương pháp điều trị.
Với những trường hợp chảy máu do các nhánh mạch bất thường trong phổi, can thiệp nội mạch dưới hướng dẫn DSA có thể giúp bác sĩ xác định hệ mạch bất thường và nút chọn lọc các nhánh mạch liên quan đến chảy máu. Đây là phương pháp ít xâm lấn, có thể được lựa chọn ở những trường hợp phù hợp.
*Tên của người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH