Sau hai ngày hoa mắt, chóng mặt, nặng ngực, ông Sơn 42 tuổi đến Bệnh viện Tâm Anh khám, được phát hiện huyết khối lan rộng từ thân chung động mạch phổi đến nhiều nhánh hai bên. Các bác sĩ dùng hệ thống DSA đưa ống thông qua tĩnh mạch đùi để hút, lấy nhiều mảnh huyết khối ra ngoài.
Bác sĩ CKI Tất Hoàng Phát, khoa Cấp cứu, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM (cơ sở P,Tân Sơn Hòa – Q.Tân Bình cũ) cho biết người bệnh nhập viện trong tình trạng mệt nhiều, xây xẩm, hoa mắt, hồi hộp và cảm giác nặng ngực. Đây là những triệu chứng không đặc hiệu, có thể gặp trong nhiều bệnh lý. Tuy nhiên, khi các biểu hiện tuần hoàn và hô hấp xuất hiện đồng thời, bác sĩ cần loại trừ các nguyên nhân nguy hiểm, trong đó có thuyên tắc động mạch phổi.
Người bệnh có tiền sử tăng huyết áp, đái tháo đường và rối loạn lipid máu. Qua thăm khám, bác sĩ nhận thấy các triệu chứng không đơn thuần là chóng mặt hay mệt mỏi thông thường mà có thể liên quan đến tuần hoàn phổi. Người bệnh được chỉ định chụp CT lồng ngực bằng hệ thống CT 1975 lát cắt để tìm nguyên nhân.
Hình ảnh CT cho thấy huyết khối cấp lan rộng trong hệ động mạch phổi, từ thân chung đến động mạch phổi phải, trái và nhiều nhánh ở hai bên. Tại phổi phải, huyết khối bít hoàn toàn bốn nhánh A2, A4, A7, A8 và gây tắc một phần A1, A10. Ở phổi trái, huyết khối bít hoàn toàn nhánh A4 và tắc một phần các nhánh A1, A2, A5, A7, A8, A9.
Huyết khối lan đến nhiều nhánh động mạch phổi làm cản trở dòng máu từ tim phải lên phổi để trao đổi oxy. Khi sức cản trong hệ tuần hoàn phổi tăng, thất phải phải làm việc nhiều hơn để đẩy máu qua vùng mạch bị tắc. Phạm vi tắc nghẽn càng lớn, gánh nặng lên tim phải càng tăng.
Kết quả siêu âm tim ghi nhận thân và hai nhánh động mạch phổi giãn, thất phải giãn kèm rối loạn chức năng. Siêu âm còn phát hiện các cấu trúc nghi huyết khối tại đoạn đầu động mạch phổi phải, kích thước khoảng 7,8 x 22,2 mm, và động mạch phổi trái, kích thước khoảng 10,9 x 14,9 mm.

Các bác sĩ xác định người bệnh bị thuyên tắc động mạch phổi cấp, huyết khối lan rộng hai bên, kèm giãn và rối loạn chức năng thất phải.
Đáng chú ý, xét nghiệm máu khi nhập viện ghi nhận số lượng tiểu cầu chỉ 31 G/L. Với mức giảm tiểu cầu sâu, nguy cơ chảy máu của người bệnh tăng cao. Sau khi đánh giá toàn trạng, các bác sĩ nhận định người bệnh chưa phù hợp để điều trị chống đông theo phác đồ thông thường tại thời điểm này.
Tình huống đặt êkíp trước bài toán khó. Một mặt, người bệnh có lượng huyết khối lớn, tắc nhiều nhánh động mạch phổi và đã ảnh hưởng chức năng tim phải, cần nhanh chóng cải thiện dòng máu qua phổi; mặt khác, tình trạng giảm tiểu cầu làm gia tăng nguy cơ xuất huyết và hạn chế lựa chọn điều trị bằng thuốc chống đông.
Êkíp Cấp cứu lập tức hội chẩn với Đơn vị Can thiệp nội mạch và Trung tâm Tim mạch can thiệp để đánh giá phương án điều trị.
Sau khi đánh giá mức độ tắc nghẽn, ảnh hưởng lên thất phải, nguy cơ diễn tiến của thuyên tắc phổi và nguy cơ chảy máu, các bác sĩ quyết định lấy huyết khối cơ học qua đường nội mạch. Mục tiêu là trực tiếp loại bỏ lượng huyết khối gây tắc, khôi phục dòng máu qua động mạch phổi và giảm gánh cho tim phải trong bối cảnh điều trị chống đông bị hạn chế do số lượng tiểu cầu thấp.
Bác sĩ CKI Nguyễn Trung Đức, Đơn vị Can thiệp nội mạch, Trung tâm Chẩn đoán hình ảnh và Điện quang can thiệp, cho biết, ở những trường hợp huyết khối lan rộng và đã ảnh hưởng đến chức năng tim phải, việc lựa chọn phương pháp điều trị cần dựa trên nhiều yếu tố, bao gồm mức độ tắc nghẽn, tình trạng tuần hoàn, nguy cơ bệnh diễn tiến nặng và nguy cơ chảy máu của từng người bệnh. Nếu không được chẩn đoán và xử trí kịp thời, thuyên tắc phổi nặng có thể gây suy thất phải cấp, tụt huyết áp, sốc và đe dọa tính mạng.
Trong phòng chụp mạch số hóa xóa nền (DSA), êkíp đưa hệ thống ống thông chuyên dụng từ tĩnh mạch đùi phải, qua tĩnh mạch chủ dưới, tim phải và tiếp cận động mạch phổi hai bên. Hình ảnh chụp mạch xác nhận tình trạng tắc nghẽn ở nhiều nhánh động mạch phổi. Các bác sĩ tiến hành hút và lấy huyết khối cơ học khỏi lòng mạch. Nhiều mảnh huyết khối sẫm màu lần lượt được đưa ra ngoài.
Sau thủ thuật, êkíp chụp DSA kiểm tra, ghi nhận dòng máu qua động mạch phổi hai bên được cải thiện và các vị trí tắc nghẽn được tái thông.
Ca can thiệp kéo dài khoảng hai giờ. Sau thủ thuật, người bệnh được chuyển đến khoa Gây mê Hồi sức để theo dõi sát tình trạng tuần hoàn, hô hấp, nguy cơ chảy máu và các biến chứng sau can thiệp. Các bác sĩ đồng thời tiếp tục theo dõi số lượng tiểu cầu và đánh giá chiến lược phòng ngừa huyết khối tiếp theo dựa trên diễn tiến lâm sàng cũng như sự cân bằng giữa nguy cơ tái phát huyết khối và nguy cơ xuất huyết.
Một ngày sau can thiệp, tình trạng người bệnh cải thiện rõ, hết chóng mặt, không còn cảm giác nặng ngực, có thể tự đi lại và ăn uống bình thường..
Sau hai ngày, khi tình trạng lâm sàng ổn định và không ghi nhận biến chứng cần tiếp tục theo dõi nội viện, người bệnh được xuất viện. Bác sĩ lập kế hoạch theo dõi và điều trị tiếp theo dựa trên diễn tiến số lượng tiểu cầu, nguy cơ chảy máu và nguy cơ tái phát huyết khối, đồng thời yêu cầu người bệnh tái khám đúng hẹn.
Thuyên tắc phổi xảy ra khi một hoặc nhiều động mạch phổi bị tắc, phổ biến nhất do huyết khối hình thành trong hệ tĩnh mạch sâu, thường ở chân hoặc vùng chậu, bong ra và theo dòng máu về tim rồi di chuyển đến phổi.
Nguy cơ hình thành huyết khối tĩnh mạch và thuyên tắc phổi tăng ở người vừa trải qua phẫu thuật hoặc chấn thương, phải nằm viện hoặc bất động kéo dài, mắc ung thư, béo phì, sử dụng thuốc chứa estrogen hoặc có các rối loạn tăng đông. Nguy cơ cũng tăng theo tuổi. Tuy nhiên, một số trường hợp thuyên tắc phổi vẫn có thể xảy ra mà không xác định được yếu tố khởi phát rõ ràng.
Bác sĩ khuyến cáo, khi xuất hiện đột ngột các triệu chứng như khó thở, đau hoặc nặng ngực, hồi hộp, tim đập nhanh, hoa mắt hoặc chóng mặt, đặc biệt nếu triệu chứng tăng nhanh hoặc đi kèm ngất, vã mồ hôi, tím tái, người bệnh cần được đánh giá y tế sớm. Những trường hợp khó thở nhiều, đau ngực dữ dội, ngất hoặc có dấu hiệu suy tuần hoàn cần được cấp cứu kịp thời.
*Tên của người bệnh đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH