Bà Vân, 67 tuổi, mắc đái tháo đường type 2 nhiều năm, bị viêm nướu nặng, chảy máu chân răng kéo dài nhưng trì hoãn điều trị do sợ đau, chỉ cải thiện sau khi được điều trị phối hợp đa chuyên khoa.

Khoảng 20 năm trước, trong một lần cạo vôi răng, bà Vân trải qua cảm giác đau và ê buốt kéo dài, dẫn đến ám ảnh, từ đó không quay lại nha khoa. Theo thời gian, cao răng tích tụ, nướu viêm đỏ, dễ chảy máu khi ăn uống. Một số răng sâu gây đau nhức, thậm chí sốt, nhưng bà chỉ dùng thuốc giảm đau.
Việc ăn nhai ngày càng khó khăn khiến bà phải hạn chế thức ăn cứng, đồng thời tự ti trong giao tiếp do hơi thở có mùi và răng ố vàng.
Ba tháng trước lễ cưới con gái, mong muốn xuất hiện chỉn chu trong ngày trọng đại, bà quyết định đi khám dù vẫn còn lo ngại. “Con mình một đời có một ngày, sợ mấy cũng phải đi chữa”, bà Vân nói.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), khoảng 3,7 tỷ người trên thế giới mắc các bệnh răng miệng. Trong đó, viêm nha chu nặng ảnh hưởng hơn một tỷ người. Ở nhóm trên 60 tuổi, khoảng 23% mất răng hoàn toàn, ảnh hưởng trực tiếp đến dinh dưỡng và sức khỏe.
Bác sĩ Dương Anh Thư, Trưởng chuyên khoa Răng Hàm Mặt, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cho biết người bị đái tháo đường có nguy cơ bệnh răng miệng cao hơn và diễn tiến nặng hơn.
“Đường huyết cao làm suy giảm chức năng bạch cầu, tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển trong khoang miệng, đồng thời làm chậm quá trình lành thương”, bác sĩ nói.
Theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Dịch bệnh (CDC) Mỹ, người bị đái tháo đường có nguy cơ sâu răng chưa điều trị cao hơn 40% và mất răng nặng cao hơn 56% so với người không mắc bệnh.
Trường hợp của bà Vân phức tạp hơn khi đồng thời mắc tăng huyết áp và đái tháo đường chưa kiểm soát ổn định. Trước đó, bà từng đến nhiều cơ sở y tế nhưng không thể điều trị. Mỗi lần lên ghế nha khoa, tâm lý lo sợ khiến huyết áp tăng, khó thở, buộc phải dừng lại. Nhiều nơi cũng e ngại nguy cơ biến chứng nên chưa can thiệp xử trí răng sâu.
Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh (cơ sở phường Tân Hưng – Quận 7 cũ), bệnh nhân được xây dựng phác đồ điều trị cá thể hóa, phối hợp giữa các chuyên khoa Răng – Hàm – Mặt, Nội tiết và Tim mạch. Trước tiên, bác sĩ điều trị nội khoa nhằm kiểm soát huyết áp và đường huyết về ngưỡng an toàn, với huyết áp duy trì ≤140/90 mmHg và đường huyết dưới 8-10 mmol/L.
Sau khi các chỉ số sinh tồn ổn định, bác sĩ triển khai điều trị theo từng giai đoạn để người bệnh thích nghi dần. Ở buổi đầu, bác sĩ thực hiện cạo vôi một phần hàm bằng sóng siêu âm công suất thấp. Để triệt tiêu cảm giác đau buốt, ngoài việc bôi gel hỗ trợ tâm lý, bác sĩ tiến hành tiêm tê tại các vị trí nhạy cảm. Đồng thời, công nghệ laser diode năng lượng thấp được ứng dụng giúp diệt khuẩn túi nha chu và kích thích mô lợi nhanh hồi phục.

Khi bệnh nhân ổn định tâm lý, việc làm sạch cao răng được thực hiện toàn hàm, bao gồm cả vùng dưới lợi. Mức năng lượng laser được điều chỉnh phù hợp nhằm tăng hiệu quả kiểm soát vi khuẩn và giảm viêm. Song song, bệnh nhân được hướng dẫn chăm sóc răng miệng tại nhà.
Khi tình trạng viêm được kiểm soát và các chỉ số ổn định, bác sĩ tiến hành nhổ răng sâu gây nhiễm trùng kéo dài. Sau thủ thuật, vị trí nhổ răng không chảy máu kéo dài, bệnh nhân có thể ra về trong ngày.
Sau 4 buổi điều trị, tình trạng viêm nướu cải thiện rõ rệt, không còn chảy máu, răng được làm sạch và sáng màu hơn. Trong ngày cưới con gái, bà Vân có thể tự tin giao tiếp, chấm dứt nỗi ám ảnh nha khoa kéo dài suốt hai thập kỷ.
Bác sĩ Thư khuyến cáo người mắc đái tháo đường và các bệnh nội khoa cần khám răng định kỳ 3-4 tháng/lần, thay vì 6 tháng như người bình thường. Đặc biệt, viêm nha chu và tiểu đường có mối liên hệ tác động hai chiều. Nếu không kiểm soát tốt tình trạng nha chu, chỉ số đường huyết sẽ tăng mạnh. Ngược lại, đường huyết không ổn định cũng khiến bệnh nha chu tiến triển nặng hơn và khó điều trị. Việc can thiệp đúng cách và theo dõi sát sao giúp người có bệnh nền điều trị an toàn, ngăn ngừa biến chứng và cải thiện chất lượng sống.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH