Bà Diễm, 52 tuổi, huyết khối cũ gây xơ hóa, tắc hẹp động mạch phổi, được bác sĩ nong bóng qua ba đợt cải thiện dòng máu đến phổi.
Bà Diễm ho, khó thở kéo dài nhiều năm, nhất là khi đi bộ hoặc làm việc gắng sức. Kết quả khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM cho thấy bà bị tăng áp phổi do huyết khối thuyên tắc mạn tính (CTEPH). Đây là tình trạng cục máu đông trong động mạch phổi không tan hoàn toàn, lâu ngày hóa mô xơ, tạo thành các dải, màng hoặc đoạn hẹp, tắc trong lòng mạch. Do đó, dòng máu từ tim phải lên phổi gặp sức cản lớn hơn làm tăng áp lực động mạch phổi và tăng gánh nặng cho thất phải.
Kết quả chụp CT mạch máu cho thấy bà Diễm có nhiều tổn thương ở cả hai phổi, từ các nhánh động mạch lớn đến những nhánh nhỏ nằm xa. PGS.TS.BS Phạm Nguyễn Vinh, Giám đốc Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho biết đây là yếu tố khiến phương án điều trị trở nên phức tạp.
Hiện, điều trị CTEPH dựa trên ba phương pháp chính gồm phẫu thuật bóc nội mạc động mạch phổi (PEA), nong bóng động mạch phổi (BPA) vad sử dụng thuốc. Nhiều bệnh nhân có thể cần phối hợp các phương pháp này thay vì chỉ sử dụng một liệu pháp duy nhất.
Thông thường, phẫu thuật bóc nội mạc động mạch phổi là lựa chọn hàng đầu nếu tổn thương ở vị trí có thể tiếp cận. Trong khi đó, trường hợp bà Diễm, nhiều đoạn hẹp và tắc phân bố tại các nhánh động mạch phổi xa. Sau khi đánh giá hình ảnh mạch máu, huyết động và hội chẩn, êkíp xác định tổn thương không phù hợp để xử lý tối ưu bằng phẫu thuật.
Bác sĩ chỉ định dùng thuốc kháng đông để phòng ngừa huyết khối mới, kết hợp thuốc điều trị tăng áp phổi. Tuy nhiên thuốc không trực tiếp loại bỏ các tổn thương xơ hóa đã gây hẹp hoặc tắc trong lòng động mạch phổi.
Bệnh nhân mới ngoài 50 tuổi nhưng khả năng gắng sức giảm rõ rệt. “Nếu không sớm cải thiện dòng máu qua nhánh động mạch phổi bị tắc, tim phải cần tạo áp lực lớn hơn để đẩy máu qua phổi dẫn đến giãn và suy yếu”, phó giáo sư Vinh nói.
Trước tình thế đó, êkíp lựa chọn nong động mạch phổi bằng bóng (BPA). Thay vì mổ mở, bác sĩ đưa dây dẫn và bóng chuyên dụng qua đường mạch máu đến những nhánh động mạch phổi bị hẹp, sau đó nong bóng có kiểm soát để mở rộng lòng mạch, cải thiện dòng máu đến vùng phổi phía sau tổn thương.
BS.CKII Vũ Năng Phúc, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, cho hay đây là kỹ thuật can thiệp chuyên sâu, tối ưu cho bệnh nhân có tổn thương không phù hợp phẫu thuật hoặc còn tăng áp phổi tồn lưu hay tái phát sau phẫu thuật. Kỹ thuật này hiện mới được triển khai tại một số ít trung tâm tim mạch ở Việt Nam.
Kết quả đo kháng lực động mạch phổi của bệnh nhân ở mức 5,5 WU, tăng rõ rệt, khiến tim phải chịu áp lực lớn để đưa máu qua phổi.
Do tổn thương phân bố rộng ở cả hai phổi, êkíp xây dựng kế hoạch can thiệp qua ba đợt, lần lượt xử lý các nhóm nhánh động mạch phổi theo vị trí giải phẫu. Theo bác sĩ Phúc, cách chia từng đợt giúp tăng tính an toàn của thủ thuật; đồng thời nếu xảy ra biến chứng như tổn thương mạch máu hoặc xuất huyết phổi, êkíp có thể xác định khu vực tổn thương và xử trí thuận lợi hơn.

Ở lần đầu tiên, bác sĩ ưu tiên nong bóng một số nhánh ở thùy dưới phổi phải. “Tôi cảm thấy dễ thở hơn nhiều”, bà Diễm nói khi còn nằm trên bàn thủ thuật. Bà được gây tê tại chỗ, vẫn tỉnh trong quá trình can thiệp, xuất viện sau 48 giờ.
Sau đợt can thiệp đầu tiên một tháng, êkíp tiến hành lần thứ hai tại các nhánh động mạch phổi trái. Một tháng sau, bệnh nhân được điều trị lần thứ ba, tập trung vào các nhánh còn hẹp, tắc ở phổi phải. Sau ba lần can thiệp, kháng lực động mạch phổi của bà Diễm giảm từ 5,5 WU xuống khoảng 2 WU, cho thấy huyết động phổi cải thiện rõ rệt. Nhiều nhánh động mạch phổi trước đó bị hẹp hoặc tắc được mở rộng, dòng máu qua phổi cải thiện tốt hơn.
Bà Diễm cho biết tình trạng hụt hơi giảm rõ và khả năng vận động tốt hơn. Bà tiếp tục sử dụng thuốc theo chỉ định, tái khám định kỳ để đánh giá triệu chứng, chức năng tim phải và huyết động phổi.

Tăng áp phổi do huyết khối thuyên tắc mạn tính (CTEPH) có khả năng xuất hiện sau một đợt thuyên tắc phổi cấp, nhưng không phải người bệnh nào cũng có tiền sử rõ ràng.
CTEPH là bệnh ít gặp nhưng có thể bị bỏ sót vì triệu chứng không đặc hiệu. Người bệnh khó thở kéo dài hoặc ngày càng tăng, nhanh mệt, giảm khả năng gắng sức nên đi khám để tìm nguyên nhân. Đặc biệt, người từng bị thuyên tắc phổi nhưng sau vài tháng vẫn còn khó thở hoặc khả năng vận động chưa trở lại như trước cần được đánh giá để loại trừ CTEPH.
Người bệnh nghi ngờ CTEPH cần được đánh giá chuyên sâu bằng siêu âm tim, các phương tiện khảo sát tưới máu và hình ảnh động mạch phổi; trong trường hợp phù hợp, thông tim phải được thực hiện để đo chính xác huyết động và hỗ trợ lựa chọn phương pháp điều trị.
Do lựa chọn giữa phẫu thuật, nong bóng và thuốc phụ thuộc vị trí tổn thương, mức độ tăng áp phổi, đặc điểm của từng bệnh nhân, CTEPH nên được đánh giá tại trung tâm có kinh nghiệm về tăng áp phổi và phối hợp nhiều chuyên khoa. Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, người bệnh nghi ngờ CTEPH được đánh giá theo hướng phối hợp giữa tim mạch, chẩn đoán hình ảnh, tim mạch can thiệp và các chuyên khoa liên quan nhằm lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH