Rung nhĩ và suy tim thường cùng tồn tại, tác động lẫn nhau, làm gia tăng đáng kể tỷ lệ tử vong. Theo thống kê, hơn một nửa số bệnh nhân suy tim được phát hiện mắc rung nhĩ và dự kiến tình trạng này sẽ tiếp tục tăng do ảnh hưởng của già hóa dân số. Vậy rung nhĩ trong suy tim có nguy hiểm không, tình trạng này được điều trị như thế nào?

Rung nhĩ trong suy tim là tình trạng rối loạn nhịp tim (rung nhĩ) xảy ra ở người đang bị suy tim. Khi đó, các buồng nhĩ của tim (đặc biệt là nhĩ trái) mất khả năng co bóp đồng bộ, tạo ra nhiều xung điện hỗn loạn khiến tim đập nhanh, không đều.
Rung nhĩ là loại rối loạn nhịp tim phổ biến nhất ở bệnh nhân suy tim mạn tính, làm tăng gấp 4-6 lần nguy cơ nhập viện do suy tim cấp. Trong nghiên cứu Framingham về tim mạch, 32% bệnh nhân được chẩn đoán mắc suy tim có tiền sử rung nhĩ và 30% số bệnh nhân khác được phát hiện mắc cơn rung nhĩ sau suy tim. (1)
Rung nhĩ làm tăng gấp 3 lần nguy cơ mắc suy tim mới ở một người. Ngược lại, những thay đổi về cấu trúc và thần kinh tim cũng có thể làm gia tăng khả năng mắc rung nhĩ. Suy tim rung nhĩ, bất kể là nguyên nhân hay hậu quả, đều làm tiên lượng bệnh trở nên xấu hơn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống, kéo dài thời gian nhập viện và tăng tỷ lệ tử vong.
Theo đánh giá từ Swedish HF Registry, tỷ lệ rung nhĩ xuất hiện trong suy tim có sự khác biệt ở các mức phân suất tống máu khác nhau:
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy, tỷ lệ rung nhĩ có xu hướng tăng dần theo phân độ NYHA. (2)

Mặc dù rung nhĩ và suy tim có liên quan mật thiết về sinh lý bệnh, có khả năng tác động lẫn nhau, tuy nhiên mối quan hệ giữa hai tình trạng này vẫn chưa được xác định đầy đủ. Nguyên nhân và cơ chế suy tim rung nhĩ được biểu hiện dưới đây.
Suy tim có thể làm tăng nguy cơ phát triển rung nhĩ theo nhiều cơ chế, bao gồm tăng áp lực đổ đầy tim, rối loạn điều hòa canxi nội bào và rối loạn chức năng thần kinh tự chủ: (3)
Rung nhĩ là một trong những yếu tố tiềm ẩn và thúc đẩy suy tim cấp tính. Khi cơn rung nhĩ kéo dài với nhịp thất nhanh, không đều khiến tim phải hoạt động liên tục ở cường độ cao, dẫn đến tái cấu trúc tâm thất, thành tâm thất bị giãn nở và trở nên mỏng hơn, làm tăng khối lượng thất trái và độ cứng của cơ tim. Điều này khiến chức năng co bóp cua tim suy giảm, khả năng bơm máu giảm hiệu quả và lâu dài có thể gây ra bệnh cơ tim do rung nhĩ. Nhiều nghiên cứu cho thấy, rung nhi làm tăng gấp 3 lần nguy cơ suy tim mới ở một người.
Ở bệnh nhân suy tim, sự xuất hiện cơn rung nhĩ có thể làm tình trạng suy tim tiến triển nhanh hơn, dễ dẫn đến suy tim mất bù cấp tính nếu không được kiểm soát kịp thời.
Rung nhĩ và suy tim có thể xuất hiện đồng thời và làm tăng tỷ lệ tử vong so với khi tồn tại riêng lẻ. Kết quả từ nghiên cứu Framingham về tim mạch cho thấy có đến 50% bệnh nhân mắc đồng thời hội chứng suy tim và rung nhĩ. Điều này bắt nguồn từ các yếu tố nguy cơ phổ biến và cơ chế bệnh sinh giống nhau.
Suy tim và rung nhĩ tác động lẫn nhau, sự xuất hiện của tình trạng nào cũng đều làm trầm trọng hơn tình trạng còn lại. Rung nhĩ trong suy tim có thể làm trầm trọng thêm tình trạng rối loạn chức năng thất trái, gây suy giảm chức năng bơm máu của tim, đồng thời cũng có thể dẫn đến bệnh cơ tim – một trong những nguyên nhân gây rung nhĩ, và tiếp tục tạo ra một vòng lặp luẩn quẩn.
Các yếu tố nguy cơ chung có thể dẫn đến tình trạng rung nhĩ suy tim bao gồm: tuổi tác, tăng huyết áp, bệnh động mạch vành, đái tháo đường, béo phì, bệnh van tim, thiếu máu cục bộ,… liên quan đến các thay đổi tế bào cơ tim, dẫn truyền điện tim và thần kinh tự chủ – làm tăng nguy cơ mắc rung nhĩ trong suy tim.

Nhìn chung, không có sự khác biệt giữa các triệu chứng của rung nhĩ và suy tim. Suy tim rung nhĩ có thể biểu hiện các triệu chứng lâm sàng như mệt mỏi, hụt hơi, khó thở, đánh trống ngực, hồi hộp, chóng mặt, cảm giác nặng nề ở vùng ngực, đau tức ngực,… Một số trường hợp người bệnh rung nhĩ không biểu hiện triệu chứng, hoặc các dấu hiệu không xuất hiện rõ ràng và có thể nhầm lẫn với triệu chứng của suy tim. Do đó nhiều trường hợp bệnh nhân suy tim không biết mình mắc rung nhĩ.
Rung nhĩ trong suy tim là tình trạng nguy hiểm đối với sức khỏe, đồng thời là một trong những biến chứng suy tim thường gặp. Sự xuất hiện đồng thời của rung nhĩ và suy tim khiến kéo dài thời gian nhập viện và gia tăng đáng kể tỷ lệ tử vong. Đáng lo ngại hơn, rung nhĩ khởi phát ở bệnh nhân suy tim lớn tuổi có nguy cơ tử vong cao hơn đáng kể so với bệnh nhân không bị rung nhĩ hoặc chỉ bị rung nhĩ mạn tính.
Hơn 80% bệnh nhân nhập viện do suy tim được phát hiện mắc rung nhĩ mới khởi phát tử vong trong vòng 4 năm sau khi xuất viện, trong khi đó tỷ lệ này là 61-66% ở những bệnh nhân không/mắc rung nhĩ mạn tính. Rung nhĩ suy tim cũng làm tăng nguy cơ hình thành cục máu đông gây đột quỵ não, liên quan đến chứng trầm cảm, sa sút trí tuệ do mạch máu và suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống.
Bệnh suy tim rung nhĩ được chẩn đoán qua các phương pháp:

Mặc dù phương pháp điều trị rung nhĩ suy tim chưa được nghiên cứu rõ ràng, tuy nhiên việc điều trị các bệnh lý nền, khắc phục các yếu tố nguy cơ là rất quan trọng.
Kiểm soát bệnh lý nền đi kèm và các yếu tố nguy cơ là đặc biệt quan trọng khi điều trị rung nhĩ suy tim. Bệnh nhân cần chú ý theo dõi các chỉ số huyết áp, đường huyết, điều trị các bệnh lý cường giáp, hội chứng ngưng thở khi ngủ, bệnh động mạch vành, bệnh van tim,… giúp tối ưu hiệu quả điều trị suy tim rung nhĩ.
Suy tim là yếu tố nguy cơ và làm trầm trọng hơn tình trạng rung nhĩ. Việc tuân thủ điều trị suy tim hiệu quả có thể giúp ngăn ngừa các đợt rung nhĩ. Những loại thuốc được chỉ định trong điều trị suy tim có thể bao gồm: thuốc ức chế men chuyển, thuốc ức chế thụ thể angiotensin II, thuốc chẹn beta, thuốc lợi tiểu, thuốc đối kháng aldosterone, thuốc ức chế SGLT-2,…
Điều trị thuốc chống loạn nhịp giúp kiểm soát triệu chứng rung nhĩ và duy trì nhịp xoang. Việc sử dụng thuốc chống loạn nhịp tim (dofetilide hoặc amiodarone) cần tuân theo sự chỉ định của bác sĩ để tránh những tác dụng không mong muốn.
Bệnh nhân mắc rung nhĩ kèm suy tim được bác sĩ cân nhắc chỉ định thuốc chống đông máu, phòng ngừa nguy cơ hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn mạch – nguyên nhân chính gây đột quỵ não.
Tần số và nhịp tim tăng nhanh không được kiểm soát là nguyên nhân gây ra các bệnh cơ tim, suy tim hoặc làm cho suy tim tiến triển nặng hơn. Do đó, việc kiểm soát tần số và kiểm soát nhịp trong suy tim cấp là rất quan trọng để cải thiện tiên lượng bệnh. Tùy theo thể trạng sức khỏe và mức độ nghiêm trọng của bệnh, bác sĩ có thể chỉ định sử dụng thuốc chuyển nhịp tim đường tĩnh mạch/đường uống hoặc sốc điện chuyển nhịp để kiểm soát tần số, khôi phục nhịp tim bình thường.
Xem thêm: Nhịp tim của người suy tim bao nhiêu thì cần kiểm soát?
Rung nhĩ có thể đảo ngược là tình trạng rối loạn nhịp tim xảy ra do một bệnh lý hoặc yếu tố tác động tạm thời. Khi điều trị và kiểm soát được nguyên nhân gốc, nhịp tim thường trở lại bình thường mà không cần can thiệp lâu dài.
Các nguyên nhân thường gặp gây rung nhĩ có thể đảo ngược gồm: bệnh cường giáp, viêm cơ tim, thiếu máu, viêm màng ngoài tim, hẹp/hở van tim, thuyên tắc phổi, hội chứng Wolff–Parkinson–White (WPW)…
Triệt đốt rung nhĩ bằng sóng cao tần là phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu, được chỉ định thực hiện trong trường hợp điều trị thuốc không hiệu quả. Triệt đốt rung nhĩ giúp ổn định tình trạng rối loạn nhịp tim bằng việc tạo ra các vết sẹo nhỏ trong mô tim, triệt phá ổ loạn nhịp và chặn các tín hiệu điện bất thường.

Cấy máy tạo nhịp là phương pháp can thiệp được cân nhắc trong trường hợp bệnh nhân suy tim kèm rối loạn nhịp, tắc nghẽn đường truyền tín hiệu điện tim. Đặt máy tạo nhịp giúp kiểm soát nhịp tim, ngăn ngừa nhịp tim chậm, nhịp tim không đều và dự phòng cơn ngưng tim đột ngột.
Suy tim và rung nhĩ là hai tình trạng có tác động qua lại lẫn nhau. Do đó, việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ có ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa rung nhĩ ở bệnh nhân suy tim và ngược lại.
Mặc dù không có phương pháp nào được chứng minh có hiệu quả trong việc ngăn ngừa nguy cơ mắc suy tim khởi phát ở những bệnh nhân mắc rung nhĩ, tuy nhiên việc kiểm soát các yếu tố nguy cơ tim mạch, bao gồm thay đổi lối sống và kiểm soát các bệnh lý nền có thể giúp giảm khả năng suy tim tiến triển nặng do rung nhĩ.Đồng thời việc tuân thủ điều trị nội khoa ở bệnh nhân suy tim giúp làm giảm nguy cơ rung nhĩ mới khởi phát.
Một số thay đổi trong thói quen sinh hoạt có thể giúp ích trong việc giảm thiểu nguy cơ mắc rung nhĩ suy tim bao gồm:
Rung nhĩ là yếu tố làm tăng mạnh nguy cơ đột quỵ sau suy tim, bệnh nhân mắc rung nhĩ suy tim có nguy cơ bị đột quỵ cao gấp 5 lần. Thống kê cho thấy rung nhĩ chiếm đến 30% trong tổng số các trường hợp đột quỵ do thiếu máu cục bộ, tức cứ 3 người bị rung nhĩ thì có 1 người có khả năng bị đột quỵ. Trong cơn rung nhĩ, máu bị ứ đọng ở tâm nhĩ trái và hình thành cục máu đông.
Với áp lực co bóp của tim, cục máu đông di chuyển đến não, gây tắc nghẽn động mạch và giảm lượng oxy đến não. Người bị rung nhĩ có nguy cơ cao gặp các biến chứng tim mạch và làm gia tăng tỷ lệ tử vong do đột quỵ. Tình trạng này trở nên nguy hiểm hơn ở bệnh nhân từng bị cục máu đông, người cao tuổi, người bị hẹp van hai lá, mắc bệnh van tim, tăng huyết áp, bệnh cường giáp, đái tháo đường, rối loạn chức năng thất trái,…
Hiện tại chưa có phương pháp điều trị có chữa khỏi hoàn toàn tình trạng suy tim rung nhĩ. Tuy nhiên việc tuân thủ phác đồ điều trị, quản lý tốt các yếu tố nguy cơ và thực hiện lối sống lành mạnh cho tim mạch có thể làm giảm nguy cơ biến chứng, cải thiện tiên lượng và nâng cao chất lượng sống cho người bệnh.

Rung nhĩ suy tim cần được theo dõi và kiểm soát lâu dài để giảm thiểu biến chứng và giảm tỷ lệ tử vong. Trong trường hợp có các dấu hiệu dưới đây, người bệnh cần nhanh chóng đến thăm khám tại Phòng khám Suy tim – Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM để được chẩn đoán và điều trị kịp thời:
Đặt lịch thăm khám 1:1 cùng chuyên gia Tim mạch – BVĐK Tâm Anh theo thông tin:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Rung nhĩ trong suy tim là tình trạng nguy hiểm, làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng cuộc sống, kéo dài thời gian nhập viện và tăng đáng kể tỷ lệ tử vong. Mặc dù chưa có phương pháp điều trị dứt điểm tình trạng này, tuy nhiên việc quản lý tốt các bệnh lý nền, duy trì thói quen sinh hoạt tốt cho tim mạch và tầm soát tim mạch định kỳ có thể giúp cải thiện tiên lượng bệnh.