Suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF) xảy ra khi tâm thất trái bị suy yếu chức năng và phân suất tống máu EF giảm nhẹ, dao động trong mức 40-49%. Tình trạng này làm khả năng bơm máu của tim đến các cơ quan bị hạn chế, nếu không được điều trị kịp thời và đúng cách, có thể làm tăng nguy cơ nhập viện và tử vong.

Suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF) là một trong những kiểu hình của hội chứng suy tim, đặc trưng bởi tình trạng thất trái suy yếu với phân suất tống máu thất trái dao động từ 40-49%. Một số quan điểm cho rằng HFmrEF là “giai đoạn chuyển tiếp” của suy tim EF giảm (HFrEF) và suy tim EF bảo tồn (HFpEF) do có một số đặc điểm tương tự. Tuy nhiên, hiện nay HFmrEF được xem là một thể bệnh riêng biệt.
Thuật ngữ “suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ” (HFmrEF) được đề cập lần đầu tiên vào năm 2014, trong nghiên cứu của Carolyn SP Lam, Scott D Solomon. Nghiên cứu này đã chỉ ra phân nhóm suy tim EF giảm nhẹ chiếm 10-20% các trường hợp suy tim, có đặc điểm lâm sàng, siêu âm tim, huyết động, dấu ấn sinh học khác biệt so với HFrEF, HFpEF và thường có tiên lượng xấu. (1)
Năm 2016, trong Hướng dẫn Suy tim, Hội Tim mạch châu Âu (ESC) đã cập nhật HFmrEF là một thể riêng biệt với EF dao động trong mức 41-49%. Đáng chú ý hơn, trong báo cáo Những cân nhắc điều trị dược lý trong HFmrEF năm 2021 (Pharmacotherapy Considerations in Heart Failure with Mildly-Reduced Ejection Fraction) cho thấy tỷ lệ bệnh nhân mắc HFmrEF đã tăng lên, chiếm khoảng 1/4 các ca suy tim.

Phân suất tống máu (EF) là chỉ số thể hiện khả năng bơm máu của tim trong mỗi lần co bóp. Qua đó giúp bác sĩ đánh giá chức năng tim, dự đoán nguy cơ tim mạch, xây dựng phác đồ điều trị phù hợp và tiên lượng bệnh. Đối với người trưởng thành khỏe mạnh, phân suất tống máu dao động ở mức 55-70%. Khi chỉ số này giảm xuống dưới mức bình thường là dấu hiệu cảnh báo những vấn đề sức khỏe tiềm ẩn, người bệnh cần được theo dõi và điều trị kịp thời để hạn chế những biến chứng tim mạch nguy hiểm. (2)
Suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ, hay suy tim phân suất tống máu trung bình, đặc trưng với EF dao động từ 40-49% – chỉ số dưới ngưỡng bình thường. Mặc dù sinh lý bệnh chưa được hiểu một cách rõ ràng, tuy nhiên HFmrEF có một số đặc điểm lâm sàng gần tương tự hoặc hỗn hợp giữa HFrEF và HFpEF. Những đặc điểm này bao gồm nồng độ NT-proBNP, cấu trúc nội tiết thần kinh, dấu ấn sinh học, troponin.
Ở phân loại suy tim này, chức năng bơm máu của tim bị suy giảm nhẹ. Người bệnh có thể không gặp các triệu chứng của suy tim, một số trường hợp biểu hiện triệu chứng khi hoạt động gắng sức, tuy nhiên triệu chứng thường thuyên giảm khi nghỉ ngơi.
Suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ có thể bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, bao gồm:
Để điều trị HFmrEF, việc xác định nguyên nhân của bệnh là rất quan trọng, bao gồm nguyên nhân nền và nguyên nhân thúc đẩy (yếu tố làm nặng thêm tình trạng suy tim). Nguyên tắc của điều trị HFmrEF tương tự như HFrEF và HFpEF, bao gồm: thay đổi lối sống, điều trị thuốc hoặc điều trị can thiệp bằng thiết bị.
Vận động thể chất vừa sức và đảm bảo chế độ nghỉ ngơi hợp lý giúp kiểm soát HFmrEF, giảm nguy cơ suy tim tiến triển
Tùy theo từng tình huống cụ thể và bệnh nền của bệnh nhân, một số nhóm thuốc được chỉ định cho bệnh nhân HFmrEF bao gồm:
Trong một số trường hợp, bệnh nhân suy tim có thể thực hiện cấy ghép thiết bị điện tử nhằm cải thiện triệu chứng, ổn định chức năng bơm máu và dự phòng biến chứng. Một số thiết bị có thể được chỉ định bao gồm:
Hiện tại các thiết bị này chủ yếu được chỉ định trên nhóm bệnh nhân suy tim EF giảm (HFrEF). Một số phân tích cho thấy CRT có thể có lợi ở nhóm bệnh nhân suy tim EF giảm nhẹ (HFmrEF) nhưng chưa có nghiên cứu lớn nào chứng minh lợi ích rõ ràng của ICD và CRT cho nhóm bệnh nhân này. Vì vậy hiện chưa có khuyến cáo nào về việc cấy các thiết bị ICD/CRT trên nhóm đối tượng suy tim EF giảm nhẹ.
Mặc dù bệnh nhân suy tim phân suất máu giảm nhẹ (HFmrEF) có một số đặc điểm tương đồng so với suy tim phân suất tống máu giảm (HFrEF) và suy tim phân suất tống máu bảo tồn (HFpEF), tuy nhiên qua các nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tử vong do suy tim mới khởi phát ở bệnh nhân HFmrEF cao hơn so với HFpEF và tương đương với HFrEF.
Bên cạnh đó, huyết áp tâm thu thấp và nhịp tim cao là những yếu tố góp phần làm tăng tỷ lệ tử vong ở bệnh nhân suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ. Nghiên cứu cũng cho thấy bệnh nhân HFmrEF thường có nguy cơ bị rung nhĩ vĩnh viễn. Đáng chú ý, bệnh nhân HFmrEF kèm theo rung nhĩ có nguy cơ đột quỵ cao hơn, làm tăng tỷ lệ nhập viện và nguy cơ tử vong do suy tim.
Bệnh nhân HFmrEF kèm rung nhĩ có nguy cơ đột quỵ và tỷ lệ tử vong do biến cố tim mạch cao hơn
Việc phát hiện sớm, can thiệp điều trị đúng lúc và tuân thủ chặt chẽ các chỉ định của bác sĩ là yếu tố quan trọng giúp quản lý suy tim hiệu quả, cải thiện phân suất tống máu và khôi phục chức năng bơm máu của tim. Để đặt lịch thăm khám, tư vấn và điều trị kịp thời hội chứng suy tim, Quý khách hàng hãy liên hệ Phòng khám Suy tim – Trung tâm Tim mạch, BVĐK Tâm Anh theo thông tin:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Suy tim phân suất tống máu giảm nhẹ (HFmrEF) có thể xảy ra do nhiều nguyên nhân, ảnh hưởng đến chức năng bơm máu, làm tăng nguy cơ nhập viện và tỷ lệ tử vong do bệnh lý tim mạch. Việc điều chỉnh thói quen sinh hoạt lành mạnh, quản lý tốt các bệnh lý nền và tuân thủ chỉ định điều trị của bác sĩ đóng vai trò đặc biệt quan trọng, giúp người bệnh kiểm soát triệu chứng, khôi phục chức năng tim và phòng ngừa suy tim tiến triển.