Phù phổi cấp do suy tim là một trong những cấp cứu tim mạch thường gặp cần được điều trị nhanh chóng, kịp thời để cứu sống bệnh nhân và hạn chế biến chứng. Biện pháp điều trị và tiên lượng tùy thuộc vào nguyên nhân gây phù phổi.

Phù phổi cấp do suy tim là tình trạng dịch tích tụ nhanh trong mô kẽ và phế nang do áp lực trong hệ mao mạch phổi tăng cao, thường liên quan đến suy giảm chức năng thất trái cấp tính hoặc bệnh van tim nặng, đặc biệt là van hai lá. Khi tim trái không bơm máu hiệu quả, máu ứ lại ở tuần hoàn phổi, khiến dịch thoát khỏi lòng mạch vào phổi, gây khó thở dữ dội, giảm oxy máu và có thể đe dọa tính mạng nếu không được cấp cứu kịp thời. (1). Trên lâm sàng, phù phổi cấp là một trong những biểu hiện nặng của suy tim cấp.

Tất cả những yếu tố góp phần gây ứ máu và tăng áp lực của buồng tim trái đều có thể dẫn đến phù phổi do tim theo thứ tự: Tăng áp lực tĩnh mạch phổi dẫn đến tăng áp lực mao mạch phổi gây thoát dịch và tăng áp lực mô kẽ của phổi và cuối cùng là thoát dịch vào trong phế nang hay còn gọi là phù phổi. (2)
Ước tính cứ khoảng 100.000 bệnh nhân suy tim EF thấp thì có tới 75.000 – 83.000 trường hợp gặp biến chứng phù phổi đe dọa đến tính mạng. Tỷ lệ tử vong sau 6 năm theo dõi lên đến 85%. Nam giới thường bị ảnh hưởng nhiều hơn so với nữ giới và người cao tuổi có nguy cơ phù phổi cao hơn.
Ở người bệnh suy tim, đặc biệt là suy tim trái, tâm thất trái bơm máu không hiệu quả, khiến máu bị ứ lại ở nhĩ trái, làm áp lực tĩnh mạch phổi tăng cao, khiến dịch tràn vào phế nang và gây rối loạn hô hấp. Bệnh nhân thường xuất hiện triệu chứng khó thở đột ngột, đặc biệt là vào ban đêm khi nằm ngủ, hoặc khó thở xuất hiện khi gắng sức nhẹ khiến bệnh nhân mệt mỏi và giảm khả năng hoạt động thể chất.
Tình trạng suy tim tăng lên và nguy cơ phù phổi nếu có những yếu tố làm nặng (như nhiễm trùng hô hấp, nhiễm trùng toàn thân, thuốc chống viêm giảm đau, bệnh lý nội khoa khác không được kiểm soát đầy đủ..)

Nhồi máu cơ tim xảy ra khi dòng máu nuôi tim bị tắc nghẽn, dẫn đến tổn thương cơ tim, làm suy giảm chức năng tim. Khi tim không thể hoạt động hiệu quả được như bình thường hoặc có những biến chứng cơ học (hở cấp van hai lá, thủng vách liên thất, đứt dây chằng, cột cơ…) làm tăng áp lực trong hệ tuần hoàn phổi, gây phù phổi cấp.
Bệnh nhân thường đau ngực dữ dội, khó thở, đổ mồ hôi lạnh và có thể tụt huyết áp, mất ý thức, rối loạn nhịp, ngưng tim. Trong trường hợp này, cần nhanh chóng gọi cấp cứu đưa người bệnh đến bệnh viện để được thiệp y tế kịp thời, tránh đe dọa đến tính mạng.
Các bệnh lý về van tim làm gián đoạn dòng chảy của máu giữa các buồng tim, gây áp lực lớn lên phổi. Một số bệnh van tim, nhất là hẹp, hở van hai lá, hẹp, hở động mạch chủ, viêm nội tâm mạc nhiễm trùng, rách van do chấn thương, hở van hai lá cấp tính do thiếu máu cục bộ cơ tim… có thể gây quá tải thể tích thất trái, làm tăng áp lực trong phổi, nguy cơ đưa đến phù phổi cấp nếu không được can thiệp kịp thời.
Nhịp tim bất thường, đặc biệt là rung nhĩ, nhịp nhanh thất… có thể làm giảm hiệu suất bơm máu của tim, dẫn đến ứ dịch trong phổi. Bệnh nhân có thể gặp các triệu chứng như đánh trống ngực, chóng mặt, khó thở, đau tức ngực. Nếu không kiểm soát tốt, rối loạn nhịp kéo dài có thể làm suy giảm chức năng tim và gây phù phổi cấp.
Tình trạng tổn thương cấp hoặc tối cấp cơ tim, tổ chức dẫn truyền của tim do nhiễm vi rút hoặc vi khuẩn có thể gây suy sụp tuần hoàn trầm trọng, dẫn đến tử vong nhanh chóng nếu không được cấp cứu kịp thời hoặc không có đầy đủ phương tiện. Tuy nhiên, nếu được chẩn đoán sớm và điều trị đúng cách, phần lớn viêm cơ tim cấp có thể cứu chữa được và không để lại di chứng.
Tăng huyết áp nặng là một trong những nguyên nhân gây phù phổi cấp do tim với đặc điểm cơn phù phổi xảy ra nhanh chóng và cũng kết thúc nhanh chóng (còn gọi là phù phổi chớp nhoáng – Flash Pulmonary Edema). Tình trạng thường xảy ra ở những bệnh nhân bị tăng huyết áp khó được kiểm soát lâu ngày khiến thành tim dày nhiều, gây hạn chế căng giãn buồng tim, trong khi chức năng co bóp của thất trái còn tốt.
Khi xảy ra co thắt mạch máu, buồng thất trái dày cứng không dãn nở đủ để đáp ứng với tình trạng tăng lưu lượng máu sẽ dẫn đến tăng hoạt hóa giao cảm và tăng áp lực đổ đầy thất trái, gây tăng áp lực mao mạch phổi đột ngột và gây phù phổi. Khi đó, nhờ hoạt động bù trừ của buồng thất phải giúp tăng tống máu để giải quyết tình trạng ứ huyết và chấm dứt cơn phù phổi cấp.

Bệnh cơ tim là một nhóm các bệnh lý gây bất cấu trúc và chức năng cơ tim, không do bệnh van tim, bệnh mạch vành, bệnh tim bẩm sinh hay tăng huyết áp gây ra. Hậu quả là gây rối loạn chức năng co bóp cơ tim gây suy tim, phù phổi, rối loạn nhịp và cuối cùng là tử vong.
Biểu hiện lâm sàng của bệnh nhân bị phù phổi cấp do suy tim tiến triển khá nhanh, thường khởi phát đột ngột với các biểu hiện:
Hầu hết bệnh nhân phù phổi cấp đều có biểu hiện khó thở, thở gắng sức và một số triệu chứng khác rõ ràng. Cần xác định nhanh những chỉ số sinh tồn để đưa ra biện pháp điều trị phù hợp song song với việc xác định nguyên nhân của phù phổi cấp.

Bệnh nhân được chẩn đoán phù phổi cấp do suy tim cần được cấp cứu kịp thời. Trước hết phải thông thoáng đường thở và cung cấp oxy cho người bệnh để duy trì độ bão hòa oxy ở mức > 90%, bao gồm: dây thở (cannula), mặt nạ thở (mask), thở máy hỗ trợ không xâm lấn, đặt nội khí quản và thở máy tùy theo nhu cầu của bệnh nhân.
Một số loại thuốc có thể được chỉ định như:
Điều trị phù phổi cấp do tim dựa vào nguyên nhân:
Kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ tim mạch, phát hiện sớm và điều trị kịp thời những bệnh lý hoặc biến cố liên quan là biện pháp phòng ngừa chủ động ngăn chặn diễn tiến suy tim, phù phổi.
Bệnh nhân cần kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ này bằng cách dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ, không tự ý ngưng hoặc thay đổi liều lượng. Đồng thời, thực hiện đo và theo dõi huyết áp thường xuyên tại nhà để phát hiện sớm nếu chỉ số huyết áp bất thường. Xét nghiệm máu định kỳ mỗi 3 – 6 tháng để theo dõi tình trạng rối loạn mỡ máu, tiểu đường.
Chế độ ăn uống lành mạnh
Duy trì thói quen hoạt động thể chất thường xuyên sẽ giúp cải thiện chức năng tim, tăng cường tuần hoàn và nâng cao sức khỏe tổng thể. Người bệnh nên chọn các môn thể thao và mức độ tập phù hợp với tình trạng sức khỏe của bản thân như đi bộ, đạp xe, thiền, hít thở sâu…
Tâm lý căng thẳng, stress có thể làm tăng nhịp tim, huyết áp và ảnh hưởng đến sức khỏe tim mạch. Vì vậy, người bệnh nên thư giãn tinh thần, cân bằng giữa công việc và nghỉ ngơi, ngủ đủ giấc nhằm giúp ổn định hệ tim mạch.
Người có bệnh tim mạch hoặc nguy cơ suy tim nên tiêm phòng cúm mùa, phế cầu theo hướng dẫn của bác sĩ để giảm nguy cơ nhiễm trùng hô hấp làm tim mất bù. Đồng thời, cần chủ động phòng sốt xuất huyết bằng cách diệt muỗi, tránh muỗi đốt và thăm khám sớm khi sốt kéo dài hoặc khó thở.
Mỗi người nên chủ động thăm khám sức khỏe định kỳ nhằm giúp phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường ở tim, phổi, từ đó có biện pháp can thiệp kịp thời. Đối với người có các yếu tố nguy cơ tim mạch, nên thăm khám thường xuyên hơn hoặc theo lịch hẹn của bác sĩ.

Người bệnh cần đến gặp bác sĩ ngay khi xuất hiện triệu chứng mệt, khó thở một cách bất thường (xảy ra đột ngột, không tương xứng với mức độ gắng sức, nghỉ ngơi không cải thiện, hoặc khó thở mới xuất hiện nhưng đã nặng và càng trở nên nghiêm trọng…), có thể kèm ho ra bọt hồng hoặc có lẫn máu, tim đập nhanh bất thường… có thể là dấu hiệu cảnh báo phù phổi cấp do suy tim, cần ra hiệu cho người xung quanh hỗ trợ đưa đi cấp cứu ngay.
Phù phổi cấp do tim là tình trạng nguy hiểm, bệnh nhân cần được can thiệp cấp cứu để tránh đe dọa tính mạng. Tiên lượng của bệnh nhân phụ thuộc vào nguyên nhân cơ bản gây phù phổi, nhưng phần lớn các trường hợp bệnh nhân đều có tiên lượng kém. Đáng chú ý, tỷ lệ xuất viện ở bệnh nhân phù phổi cấp do tim là 74%, nhưng tỷ lệ sống còn sau 5 năm chỉ còn 50%.
Người bị suy tim có nguy cơ cao mắc phù phổi hơn, đặc biệt là bệnh nhân suy tim chức năng tâm thu thất trái giảm. Lúc này, máu bị ứ đọng lại trong tĩnh mạch phổi, gây tăng áp lực và dẫn đến tràn dịch vào phế nang. Vì vậy, bệnh nhân suy tim cần tuân thủ điều trị, dùng thuốc và có lối sống khoa học theo đúng hướng dẫn của bác sĩ, nhằm ngăn ngừa suy tim tiến triển gây phù phổi cấp cũng như các biến chứng suy tim khác.
Sau khi điều trị phù phổi cấp, bệnh nhân vẫn cần được tiếp tục theo dõi sát để phát hiện sớm các bất thường và can thiệp kịp thời. Đồng thời, người bệnh cần tuân thủ điều trị duy trì để phục hồi những tổn thương, dùng thuốc, tích cực kiểm soát tốt các yếu tố thúc đẩy bệnh tái phát và tái khám đúng lịch hẹn.
Để đặt lịch khám, tư vấn và điều trị trực tiếp với các bác sĩ tại Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, Quý khách hàng có thể liên hệ theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Phù phổi cấp do suy tim nếu không được cấp cứu kịp thời, có thể đe dọa tính mạng người bệnh. Vì vậy, người bệnh nên chú trọng đến những dấu hiệu nhận biết tình trạng cần cấp cứu ngay như: khó thở, đau ngực dữ dội, ho có bọt hồng hoặc lẫn máu, ngất, tim đập nhanh bất thường…