
Phẫu thuật ung thư bàng quang bằng robot là phương pháp phẫu thuật nội soi có robot hỗ trợ, giúp bác sĩ cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ bàng quang qua các đường rạch nhỏ. So với mổ mở, phương pháp này thường giúp giảm lượng máu mất, giảm nhu cầu truyền máu và rút ngắn thời gian nằm viện, trong khi hiệu quả kiểm soát ung thư tương đương. Tùy tình trạng bệnh, phẫu thuật có thể kết hợp nạo vét hạch chậu và tạo đường dẫn nước tiểu mới hoặc bàng quang mới.

Phẫu thuật ung thư bàng quang bằng robot là phương pháp phẫu thuật nội soi cắt bàng quang có robot hỗ trợ. Bác sĩ ngồi tại bàn điều khiển (console), điều khiển các cánh tay robot mang camera và dụng cụ phẫu thuật được đưa vào cơ thể người bệnh qua các đường rạch nhỏ. Robot không tự phẫu thuật: mọi thao tác đều do phẫu thuật viên thực hiện và kiểm soát.
Cắt bàng quang thường được đặt ra khi ung thư đã xâm lấn lớp cơ bàng quang, hoặc ung thư chưa xâm lấn cơ nhưng thuộc nhóm nguy cơ rất cao, tái phát nhiều lần hay không đáp ứng với liệu pháp bơm BCG vào bàng quang. Với phần lớn ung thư bàng quang giai đoạn sớm, nội soi cắt u qua niệu đạo (TURBT) vẫn là bước điều trị đầu tiên và người bệnh không cần cắt bàng quang, theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu châu Âu (EAU).
Tùy đặc điểm khối u, bác sĩ có thể lựa chọn:

Các thử nghiệm ngẫu nhiên có đối chứng cho thấy cắt bàng quang bằng robot đạt hiệu quả kiểm soát ung thư tương đương mổ mở, đồng thời có một số lợi thế trong phẫu thuật và hồi phục.
Thử nghiệm RAZOR (công bố trên tạp chí Lancet năm 2018) ghi nhận nhóm mổ robot mất máu ít hơn, cần truyền máu ít hơn và nằm viện ngắn hơn, trong khi thời gian sống không bệnh tiến triển sau 2 năm không khác biệt so với mổ mở. (1)
Thử nghiệm iROC (tạp chí JAMA, 2022) cho thấy cắt bàng quang bằng robot kèm tạo đường dẫn nước tiểu trong ổ bụng giúp người bệnh có nhiều ngày khỏe mạnh ở nhà hơn trong 90 ngày đầu sau mổ và ít biến chứng huyết khối hơn. (2)
Hệ thống robot Da Vinci Xi cung cấp hình ảnh 3D độ phân giải cao, phóng đại khoảng 10 lần. Phẫu thuật viên nhận diện rõ các cấu trúc giải phẫu, mạch máu và thần kinh trong vùng chậu sâu, hẹp, từ đó bóc tách chính xác hơn và hạn chế tổn thương mô lành.

Dụng cụ robot có khớp cổ tay (EndoWrist) xoay, gập với biên độ lớn hơn cổ tay người và dụng cụ nội soi thông thường. Hệ thống lọc rung tay giúp chuyển động mượt và ổn định. Nhờ đó, bác sĩ thuận lợi hơn khi bóc tách, cầm máu và khâu nối trong không gian hẹp của vùng chậu. Công nghệ hình ảnh huỳnh quang Firefly hỗ trợ đánh giá tưới máu mô theo thời gian thực, hữu ích khi kiểm tra đoạn ruột dùng để tạo đường dẫn nước tiểu.
Đường chuyển lưu nước tiểu có thể được tạo bên ngoài cơ thể (qua một đường mở nhỏ trên bụng) hoặc hoàn toàn trong ổ bụng. Với robot, phẫu thuật viên có thể thực hiện toàn bộ thì tái tạo ngay trong ổ bụng, hạn chế đưa ruột ra ngoài. Lựa chọn kỹ thuật phụ thuộc vào từng người bệnh và kinh nghiệm của ê-kíp.
Phẫu thuật được thực hiện qua các lỗ trocar nhỏ (khoảng 8 – 12 mm) cùng một đường rạch nhỏ để lấy bệnh phẩm, thay cho đường mổ dài giữa bụng. Người bệnh thường ít đau hơn, vận động và ăn uống sớm hơn, thời gian nằm viện ngắn hơn so với mổ mở. Tuy vậy, cắt bàng quang vẫn là một đại phẫu và mức độ hồi phục khác nhau ở từng người.

Theo hướng dẫn EAU, cắt bàng quang tận gốc kèm nạo vét hạch là điều trị tiêu chuẩn cho ung thư bàng quang xâm lấn cơ chưa di căn xa (giai đoạn T2 – T4a). Phẫu thuật cũng được cân nhắc với ung thư chưa xâm lấn cơ nhưng nguy cơ rất cao, hoặc tái phát, không đáp ứng sau điều trị BCG. Khi đã có chỉ định cắt bàng quang, phần lớn trường hợp có thể thực hiện bằng robot, nhưng bác sĩ cần đánh giá kỹ các yếu tố:
Người bệnh được thăm khám và đánh giá toàn diện để xác định giai đoạn bệnh, gồm xét nghiệm máu, xét nghiệm nước tiểu, đánh giá chức năng thận, chụp cắt lớp vi tính (CT) ngực – bụng – chậu, có thể chụp cộng hưởng từ (MRI) bàng quang. Kết quả giải phẫu bệnh từ lần nội soi cắt u trước đó là căn cứ quan trọng để lên kế hoạch điều trị.
Với ung thư bàng quang xâm lấn cơ, hướng dẫn EAU khuyến cáo hóa trị tân bổ trợ (hóa trị trước mổ) phác đồ có cisplatin ở người bệnh đủ điều kiện, vì giúp cải thiện thời gian sống thêm. Bác sĩ Tiết niệu và Ung bướu sẽ hội chẩn để quyết định phương án phù hợp.
Người bệnh cần thông báo cho bác sĩ tất cả các thuốc đang dùng, đặc biệt là thuốc chống đông, thuốc chống kết tập tiểu cầu, và được hướng dẫn về dinh dưỡng, nhịn ăn uống trước mổ. Với người dự kiến mở lỗ dẫn nước tiểu ra da, vị trí lỗ mở thường được đánh dấu trước mổ.
Phẫu thuật được thực hiện dưới gây mê toàn thân. Bác sĩ đặt các trocar trên thành bụng để đưa camera và dụng cụ vào ổ bụng, sau đó kết nối robot. Phẫu thuật viên chính ngồi tại console điều khiển các cánh tay robot để thực hiện:
Tùy vào mức độ xâm lấn của khối u, phẫu thuật viên có thể thực hiện:

Người bệnh được chuyển đến phòng hồi tỉnh để theo dõi sinh hiệu, giảm đau, lượng nước tiểu, ống dẫn lưu và các dấu hiệu biến chứng nếu có. Người bệnh được khuyến khích vận động và ăn uống sớm theo hướng dẫn, đồng thời được hướng dẫn chăm sóc lỗ mở ra da hoặc tập luyện với bàng quang mới.
Sau khi xuất viện, người bệnh cần tái khám đúng lịch hẹn, tuân thủ chế độ dinh dưỡng, vận động, chăm sóc vết mổ và theo dõi các dấu hiệu bất thường theo hướng dẫn của bác sĩ.
Tùy chức năng thận, đặc điểm ung thư, độ tuổi, khả năng tự chăm sóc và mong muốn của người bệnh, bác sĩ có thể lựa chọn một trong các phương pháp sau:
Hai niệu quản được tách khỏi bàng quang và đưa trực tiếp ra thành bụng, nước tiểu chảy vào túi chứa gắn bên ngoài. Kỹ thuật đơn giản, thời gian mổ ngắn, thường dành cho người lớn tuổi hoặc có nhiều bệnh nền. Nhược điểm là lỗ mở dễ hẹp, một số người cần đặt ống thông niệu quản lâu dài.
Bác sĩ cô lập một đoạn ruột non ngắn, nối hai niệu quản vào một đầu, đầu còn lại đưa ra da, thường ở vùng bụng dưới bên phải. Nước tiểu chảy liên tục ra túi chứa gắn ngoài da. Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến, ổn định lâu dài.
Bác sĩ dùng một đoạn ruột non dài hơn để tạo túi chứa nước tiểu, nối với hai niệu quản và niệu đạo, giúp người bệnh đi tiểu qua đường tự nhiên, không phải mang túi. Tuy nhiên, phương pháp này chỉ phù hợp khi niệu đạo không có tế bào ung thư, chức năng thận và gan đủ tốt, không có bệnh lý ruột nặng, và người bệnh đủ khả năng tập luyện, tự đặt ống thông tiểu khi cần. Sau mổ, người bệnh cần thời gian tập để kiểm soát việc đi tiểu, một số người có thể tiểu không kiểm soát về đêm.
“Lựa chọn đường chuyển lưu nước tiểu không chỉ dựa vào kỹ thuật mổ, mà cần cân nhắc chức năng thận, tuổi, khả năng tự chăm sóc và mong muốn của người bệnh. Chúng tôi luôn trao đổi kỹ ưu, nhược điểm của từng phương án trước khi phẫu thuật”, ThS.BS.CKI Nguyễn Tân Cương chia sẻ.

Cắt bàng quang tận gốc là một trong những phẫu thuật tiết niệu phức tạp nhất, dù mổ mở hay mổ robot. Trong thử nghiệm RAZOR, khoảng 2/3 người bệnh ở cả hai nhóm gặp ít nhất một biến chứng trong 90 ngày sau mổ, phần lớn ở mức độ nhẹ. Các biến chứng có thể gặp gồm:
Các rủi ro này được bác sĩ tư vấn đầy đủ trước khi người bệnh đồng ý phẫu thuật. Vì kết quả phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm của ê-kíp, người bệnh nên điều trị tại cơ sở y tế được Bộ Y tế cấp phép, có đội ngũ chuyên sâu về ung thư tiết niệu và phẫu thuật robot, phối hợp tốt giữa các chuyên khoa.
Chi phí phẫu thuật robot cắt bàng quang không cố định, phụ thuộc vào phạm vi phẫu thuật, phương pháp chuyển lưu nước tiểu, vật tư tiêu hao, thuốc điều trị, thời gian nằm viện và các xét nghiệm, cận lâm sàng. Nhìn chung, chi phí phẫu thuật robot cao hơn mổ mở hoặc nội soi thông thường do một số dụng cụ chỉ dùng một lần.
Tại Hệ thống BVĐK Tâm Anh, phẫu thuật robot Da Vinci Xi được triển khai với 12 ê-kíp phẫu thuật ở nhiều chuyên khoa như Tiết niệu, Sản Phụ khoa, Tiêu hóa, Ngoại Lồng ngực – Mạch máu. Chi phí phẫu thuật robot hiện từ 85 triệu đồng; chi phí thực tế của ca cắt bàng quang thường cao hơn tùy mức độ phức tạp. Để biết chính xác, người bệnh cần được bác sĩ thăm khám, đánh giá và tư vấn chi tiết.
Không phải người bệnh nào cũng cần điều trị bổ sung sau cắt bàng quang. Quyết định phụ thuộc vào kết quả giải phẫu bệnh: mức độ xâm lấn của khối u, tình trạng di căn hạch, diện cắt và việc người bệnh đã hóa trị trước mổ hay chưa. Với người có nguy cơ tái phát cao, bác sĩ có thể chỉ định hóa trị hoặc liệu pháp miễn dịch bổ trợ.
Người bệnh cần được theo dõi lâu dài: Chụp CT định kỳ, xét nghiệm chức năng thận, kiểm tra vitamin B12 và tình trạng toan chuyển hóa (ở người có dùng đoạn ruột để chuyển lưu nước tiểu), cùng các kiểm tra khác theo chỉ định.
Cắt bàng quang bằng robot là phẫu thuật phức tạp, không chỉ đòi hỏi hệ thống robot hiện đại mà còn cần đội ngũ bác sĩ giàu kinh nghiệm về ung thư tiết niệu, phẫu thuật robot và tái tạo đường tiết niệu. Khi lựa chọn cơ sở điều trị, người bệnh nên quan tâm đến:

Hệ thống Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh được đầu tư đồng bộ 2 hệ thống robot Da Vinci Xi thế hệ mới từ Mỹ, ứng dụng đa chuyên khoa Tiết niệu, Tiêu hóa, Sản Phụ khoa, Ngoại Lồng ngực – Mạch máu,… trong điều trị hơn 120 bệnh lý phức tạp. Cùng với đó là đội ngũ chuyên gia, bác sĩ trình độ Giáo sư, Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Bác sĩ chuyên khoa II, Bác sĩ chuyên khoa I,… và hệ thống chẩn đoán hình ảnh chuyên sâu.
Trong chưa đầy 2 năm, BVĐK Tâm Anh đã thực hiện hơn 500 ca phẫu thuật robot Da Vinci Xi, phần lớn là các ca ung thư phức tạp. Trong đó, khoa Tiết niệu, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, triển khai 4 ê-kíp phẫu thuật robot, phẫu thuật viên chính là các chuyên gia, bác sĩ giữ vai trò Giám đốc Trung tâm, Trưởng khoa, Phó khoa.
Khoa Tiết niệu hiện ứng dụng phẫu thuật robot trong điều trị:
Người bệnh cần được bác sĩ thăm khám, đánh giá giai đoạn ung thư và tình trạng sức khỏe trước khi bác sĩ tư vấn phương pháp phẫu thuật phù hợp. Đặt lịch thăm khám theo thông tin sau:
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Phẫu thuật ung thư bàng quang bằng robot là phương pháp ít xâm lấn, giúp giảm mất máu, giảm đau và rút ngắn thời gian nằm viện so với mổ mở, trong khi hiệu quả kiểm soát ung thư tương đương. Hệ thống robot Da Vinci Xi hỗ trợ bác sĩ quan sát rõ phẫu trường, thao tác linh hoạt và hạn chế tổn thương mô lành. Tuy nhiên, đây là phẫu thuật phức tạp, cần được thực hiện bởi ê-kíp giàu kinh nghiệm phẫu thuật robot và chuyên sâu về ung thư đường tiết niệu. Người bệnh cần được bác sĩ thăm khám, đánh giá mức độ bệnh để xác định có phù hợp với phẫu thuật robot hay không.