HPV là virus gây u nhú ở người, với hơn 200 type HPV đã được xác định, 40 type lây truyền qua đường tình dục có thể gây ra các bệnh lý và ung thư nguy hiểm gồm 12 type HPV nguy cơ cao. Vậy 12 type HPV nguy cơ cao là gì? Gồm những type nào? Có nguy hiểm không? Gánh nặng bệnh tật ra sao? Điều trị và phòng ngừa thế nào? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp một cách chi tiết nhất.
Bài viết có sự tư vấn y khoa của BS Nguyễn Văn Mác Toàn, Quản lý Y khoa Vùng 1 – miền Trung – Tây Nguyên, Hệ thống tiêm chủng VNVC.

BS Nguyễn Văn Mác Toàn, Quản lý Y khoa Vùng 1 – miền Trung – Tây Nguyên, Hệ thống tiêm chủng VNVC cho biết: “12 type HPV nguy cơ cao là những type virus papilloma ở người có khả năng cao gây ung thư, đặc biệt là ung thư cổ tử cung. Theo phân loại, các type HPV nguy cơ cao bao gồm HPV 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58 và 59. Dương tính với bất kỳ loại nào trong 12 type HPV nguy cơ cao có thể làm tăng nguy cơ phát triển các loại ung thư vô cùng nguy hiểm, có thể đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe và tính mạng người bệnh.”
12 type HPV nguy cơ cao được xác định là có nguy cơ cao do khả năng gây ung thư, đặc biệt là ung thư cổ tử cung, cùng với một số loại ung thư khác như ung thư hậu môn, ung thư âm đạo, âm hộ, dương vật, ung thư vòm họng… Những type này bao gồm HPV type 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, và 59, trong đó HPV type 16 và HPV type 18 được coi là nguy hiểm và phổ biến nhất, chiếm tới 70% các ca ung thư cổ tử cung trên toàn cầu.
HPV (Human Papillomavirus) là virus gây u nhú ở người. HPV không chỉ là một virus đơn lẻ, mà bao gồm một nhóm lớn với hơn 200 type khác nhau gồm khoảng 40 chủng có khả năng lây nhiễm qua đường tình dục.
HPV được lây truyền qua tiếp xúc da với da, chủ yếu thông qua quan hệ tình dục và có thể tồn tại trong cơ thể mà không gây ra bất kỳ triệu chứng nào trong nhiều năm. Chính đặc điểm này đã khiến HPV trở thành một trong những tác nhân gây bệnh thầm lặng và khó lường nhất. Việc một người bị nhiễm một trong những type này không đồng nghĩa với việc chắc chắn sẽ phát triển thành ung thư, tuy nhiên, sự hiện diện của chúng làm tăng đáng kể nguy cơ này, đòi hỏi sự giám sát và theo dõi y tế cẩn thận.
Thống kê cho thấy, hầu hết mỗi người đều sẽ nhiễm HPV ít nhất một lần trong đời với tỷ lệ khoảng 84% ở nữ giới và 91% ở nam giới có hoạt động tình dục.
Thông thường, HPV sẽ tự đào thải ra khỏi cơ thể sau 2 năm và không gây ra vấn đề về sức khỏe. Tuy nhiên, đối với nhóm nguy cơ cao, khi xâm nhập vào cơ thể, các type HPV nguy cơ cao có khả năng gây biến đổi tế bào, phát triển thành các tổn thương tiền ung thư. Những tổn thương này, nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, có thể tiến triển thành ung thư. Đặc biệt, ung thư cổ tử cung, một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ, có mối liên hệ chặt chẽ với các chủng HPV nguy cơ cao, là minh chứng rõ ràng cho mối đe dọa từ những chủng virus này.

HPV type 16 là một trong những chủng HPV nguy hiểm và phổ biến nhất trong nhóm nguy cơ cao, chiếm tỷ lệ lớn trong các ca ung thư cổ tử cung do HPV gây ra và cũng liên quan đến các loại ung thư khác như ung thư vòm họng, ung thư hậu môn, ung thư dương vật… HPV type 16 có khả năng xâm nhập và tích hợp DNA của nó vào tế bào chủ, gây ra những thay đổi gen trong các tế bào bị nhiễm. Chủng này thường phát triển một cách âm thầm qua nhiều năm mà không có triệu chứng rõ ràng.
Với sự phổ biến trong các trường hợp ung thư cổ tử cung, HPV type 16 tạo ra gánh nặng lớn cho hệ thống y tế. Chi phí điều trị và hậu quả sức khỏe nghiêm trọng ảnh hưởng sâu sắc đến người bệnh và cộng đồng.
Virus HPV type 18 là chủng virus nguy hiểm, tiến triển nhanh khi xâm nhập cơ thể, đặc biệt là khi có các nhân tố thuận lợi khác như có nhiều bạn tình, quan hệ sớm, quan hệ không an toàn,… Theo thời gian, nếu không có sự kiểm soát và điều trị phù hợp, HPV type 18 có khả năng làm biến đổi cấu trúc các mô, hình thành tế bào nguy hại gây ung thư cho người bệnh. HPV type 18 là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại ung thư nguy hiểm và u nhú sinh dục ở nam và nữ như ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, ung thư âm đạo, ung thư âm hộ, ung thư vòm họng, mụn cóc sinh dục, sùi mào gà…
HPV type 18 có cấu trúc gen tương tự HPV type 16 về khả năng gây ung thư, đặc biệt là ung thư cổ tử cung. HPV 16 và 18 là tác nhân gây ra khoảng 70% trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới.

Các type HPV như HPV 31, HPV 33 và HPV 35 cũng thuộc nhóm nguy cơ cao. Tuy nhiên, không phải tất cả những người nhiễm HPV nguy cơ cao đều phát triển thành ung thư. Có khoảng 80% trường hợp nhiễm HPV thoáng qua và biến mất mà không gây ra vấn đề gì nghiêm trọng. Chỉ khi nhiễm HPV nguy cơ cao mạn tính mới có khả năng dẫn đến ung thư.
Thông thường, thời gian từ khi nhiễm HPV mạn tính đến khi tiến triển thành ung thư cần ít nhất 10 năm. Trong giai đoạn này, việc tuân thủ chặt chẽ chế độ theo dõi có thể giúp phát hiện sớm và điều trị các biến đổi tiền ung thư một cách hiệu quả.
Tìm hiểu thêm: HPV type 31 33 35 gây bệnh gì? Chẩn đoán, điều trị, phòng ngừa.
Một trong 12 type HPV nguy cơ cao gây nguy hiểm cho cả nam và nữ giới là HPV type 9. Tuy nhiên, những người nhiễm HPV type 39 không phải lúc nào cũng có biểu hiện triệu chứng rõ ràng. Với những người có khả năng miễn dịch mạch, virus sẽ không nhân lên và không biểu hiện triệu chứng. Đối với những người có hệ miễn dịch yếu hoặc mắc bệnh, virus sẽ nhân lên và phát triển thành các bệnh nguy hiểm. HPV type 39 có thể gây mụn cóc sinh dục và các bệnh ung thư nguy hiểm ở cả nam và nữ giới.
Theo kết quả của cuộc nghiên cứu về mối liên hệ của HPV type 45 và nguy cơ ung thư cổ tử cung được thực hiện trên 300 mẫu bệnh phẩm dương tính với type 45 từ 36 quốc gia, HPV type 45 chiếm khoảng 5% trong tất cả các trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn thế giới. HPV type 45 được xem là chủng virus HPV có khả năng gây ung thư hàng thứ 3, chỉ sau HPV type 16 và type 18.

HPV type 51 được chuyên gia đánh giá là chủng virus nguy hiểm thuộc nhóm 12 type HPV nguy cơ cao. HPV type 51 có khả năng phát triển và biến đổi các tế bào trong cơ thể người. Những người bị nhiễm HPV type 51 có thể gặp các triệu chứng như: đau buốt khi đi tiểu tiện, đại tiện, xuất hiện mụn nước li ti màu hồng, trắng nổi theo từng khu như súp lơ ở bộ phận sinh dục, miệng, lưỡi, âm đạo chảy máu bất thường, đau bụng dưới khi quan hệ tình dục.
Mặc dù ít được biết đến nhưng HPV type 52 cũng thuộc nhóm virus có nguy cơ cao có khả năng gây ung thư. HPV type 52 có kiểu gen tương tự với type 16. Trước đây, 2 type virus này được xem là 1 nhưng cho đến năm 2010, sau khi tiến hành nhiều thí nghiệm, các nhà khoa học nhận ra 2 chủng này có đặc điểm riêng nên được tách thành 2 chủng khác nhau. Không chỉ có khả năng gây ung thư cổ tử cung, HPV type 52 còn có khả năng gây ung thư âm đạo, ung thư dương vật, ung thư trực tràng, ung thư hầu họng,…
Mặc dù nằm trong nhóm 12 type HPV nguy cơ cao nhưng type 56 lại có nguy cơ gây ung thư thấp hơn so với type 16 và 18. Để đánh giá mức độ gây bệnh của type HPV 52, có thể xếp chúng vào mức gây bệnh trung bình – thấp. Tyy nhiên, không nên chủ quan trước type này vì nó có thể gây ra một số bệnh ảnh hưởng xấu đến sức khỏe.
HPV type 58 có bộ gen DNA sợi đôi nhỏ, là chủng virus được xác định vào năm 1990, có mối liên quan đến HPV type 16. HPV type 58 có mối quan hệ với CIN gây ra các bệnh như sùi mào gà, tổn thương tiền ung thư, ung thư.
HPV type 9 thường trú ở dưới lớp niêm mạc của da, trong màng tế bào của cơ quan sinh dục. Dần dần, DNA của virus sẽ xâm nhập vào trong tế bào và khi hệ miễn dịch của cơ thể giảm đi, virus sẽ làm biến đổi tế bào và gây bệnh. HPV type 59 nhằm trong nhóm 12 tuýp HPV nguy cơ cao khi có khả năng gây ung thư cổ tử cung ở nữ giới. Tuy nhiên, không phải ai nhiễm HPV type 59 cũng mắc ung thư cổ tử cung mà nguy cơ mắc còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như thể trạng tình người.

HPV type 12 và 12 type HPV nguy cơ cao đều có điểm chung là đều thuộc nhóm virus HPV (Human Papillomavirus) và lây truyền chủ yếu qua đường tình dục hoặc qua tiếp xúc trực tiếp với da và niêm mạc. Chúng đều không biểu hiện triệu chứng hoặc chỉ có triệu chứng nhẹ như nổi mụn rộp, sùi mào gà.
Điểm khác nhau là HPV type 12 thuộc chủng virus lành tính, nguy cơ gây ung thư thấp và người bị nhiễm virus chủng này cơ thể có thể tự đào thải ra ngoài sau 2 năm mà không hề hay biết mình bị nhiễm. Ngược lại, 12 type HPV nguy cơ cao là nhóm virus HPV nguy hiểm hơn, có thể gây ra nhiều bệnh ung thư nghiêm trọng ở cả nam và nữ như ung thư cổ tử cung, ung thư dương vật, ung thư hậu môn, ung thư vòm họng,…
Tuy nhiên, chuyên gia khuyến cáo nếu phát hiện bản thân nhiễm HPV type 12, bạn nên làm thêm các xét nghiệm tế bào học cổ tử cung như Pap Smear, soi cổ tử cung để sớm phát hiện ra các tổn thương bất thường để có phương pháp xử lý và điều trị kịp thời, tránh gây ra biến chứng xấu, ảnh hưởng đến sức khỏe. Nếu kết quả xét nghiệm cổ tử cung không phát hiện bất thường, bạn cần chú ý giữ vệ sinh sạch sẽ vùng sinh dục, chống viêm nhiễm âm đạo cổ tử cung để tránh virus xâm nhập và gây bệnh.
CÓ! 12 type HPV nguy cơ cao là một vấn đề đáng lo ngại trong lĩnh vực y tế cộng đồng. Những type virus này bao gồm HPV type 16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58 và 59, được xem là những tác nhân chính gây ra các bệnh ung thư liên quan đến HPV, đặc biệt là ung thư cổ tử cung.
Sự hiện diện của các type HPV nguy cơ cao trong cơ thể không phải lúc nào cũng biểu hiện rõ ràng các triệu chứng. Tuy nhiên, chúng có khả năng xâm nhập và tích hợp vào bộ gen của tế bào chủ, gây ra những thay đổi về mặt di truyền. Điều này có thể dẫn đến sự phát triển của các tổn thương tiền ung thư, và nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời, chúng có thể tiến triển thành ung thư xâm lấn.
Trong đó ung thư cổ tử cung là một trong những biến chứng nghiêm trọng nhất liên quan đến nhiễm HPV nguy cơ cao. Các type như HPV type 16 và HPV type 18 chiếm tới 70% các trường hợp ung thư cổ tử cung trên toàn cầu, gây ra gánh nặng sức khỏe và kinh tế đáng kể. Ngoài ra, các type HPV nguy cơ cao cũng có liên quan đến các loại ung thư khác như ung thư đầu cổ, vòm họng, hậu môn và dương vật.

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư xảy ra ở các tế bào lót của cổ tử cung. Cổ tử cung là phần dưới của tử cung (dạ con), nối tử cung với âm đạo. Cổ tử cung được bao phủ một lớp mô mỏng được tạo thành từ các tế bào ở cổ tử cung. Ung thư bắt đầu khi các tế bào lót ở cổ tử cung phát triển không kiểm soát và lấn át các tế bào thường, tạo thành khối u trong cổ tử cung.
Có khoảng 99.7% trường hợp ung thư cổ tử cung đều có sự hiện diện của HPV. HPV type 16, 18 là nguyên nhân gây ra 70% ung thư cổ tử cung, 30% còn lại do các type 31, 33, 45, 52, 58 và một vài type khác. Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vào năm 2020, thế giới ghi nhận hơn 660.000 trường hợp mắc mới ung thư cổ tử cung và khoảng 350.000 ca tử vong (1). Ở Việt Nam, mỗi năm có trên 5.000 ca mắc mới ung thư cổ tử cung và có khoảng 2.400 phụ nữ tử vong.
Ung thư dương vật xếp thứ 17 trong các bệnh ung thư thường gặp ở nam giới. Bệnh thường gặp ở nam giới trên 40 tuổi, chiếm 6% đến 8% tổng số các ca bệnh ung thư. HPV type 16 và 18 là nguyên nhân chính gây bệnh ung thư dương vật. Bệnh thường có các biểu hiện như thay đổi độ dày hoặc màu da; dương vật phát ban hoặc xuất hiện các nốt sần nhỏ, có cục u, có thể chảy máu, sưng; tiết dịch có mùi hôi; nổi cục dưới da ở vùng bẹn…
Nếu không được phát hiện và chữa trị kịp thời, ung thư dương vật có thể lan rộng sang các mô xung quanh như bàng quang, hậu môn, tiểu khung và cả đường tiếp khớp, dẫn đến tình trạng di căn, gây ra nhiều hệ lụy nguy hiểm, ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống và tăng cao nguy cơ tử vong của người bệnh.
Theo ước tính của Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ về ung thư dương vật ở Hoa Kỳ vào năm 2023, có khoảng 2.050 trường hợp ung thư dương vật mới được chẩn đoán, trong đó có khoảng 470 ca tử vong do bệnh lý này. Tại Việt Nam, năm 2020, có 397 ca mắc mới, chiếm tỷ lệ 0,22% trong số ca mắc ung thư. Trong đó, có 147 ca tử vong, chiếm 0,12% trong số ca tử vong do ung thư.
Ung thư âm đạo, âm hộ thường ít gặp hơn ung thư cổ tử cung ở nữ giới. 75% trường hợp ung thư âm đạo và 69% trường hợp ung thư âm hộ là do HPV gây ra (2). Ung thư âm đạo xảy ra do các tế bào ở âm đạo phát triển. Tế bào ung thư có thể xâm lấn và di căn xa tới các cơ quan bộ phận khác nhau của cơ thể (như phổi) và tiếp tục phát triển tại đó. Vào năm 2022, ước tính có khoảng 8.870 ca mắc mới và 1.630 ca tử vong do ung thư âm đạo và các bộ phận sinh dục nữ khác ở Hoa Kỳ.
Ung thư âm hộ là bệnh ung thư xảy ra ở bất kỳ bộ phận nào của bộ phận sinh dục ngoài của nữ giới nhưng thường ảnh hưởng đến vị trí mô lớn (môi ngoài), môi bé (môi trong) và đáy chậu (vùng da giữa âm đạo và hậu môn) bằng cách hình thành cục u hoặc vết loét trên âm hộ.
Trong giai đoạn đầu, khối u được tìm thấy ở âm hộ, chưa lan đến các hạch bạch huyết. Đến giai đoạn II, khối u lan đến 1/3 dưới niệu đạo, 1/3 dưới âm đạo hoặc 1/3 dưới hậu môn, chưa lan đến hạch bạch huyết. Giai đoạn III, khối u lan đến 2/3 trên của niệu đạo, 2/3 trên của âm đạo, lớp loét bên trong bàng quang, trực tràng hoặc bất kỳ hạch bạch huyết nào. Đến giai đoạn IV, khối u đã dính vào xương chậu, lan đến hạch bạch huyết ở háng hoặc đã lan ra ngoài khung chậu đến các cơ quan ở xa.
Khi bước vào giai đoạn IV, tình trạng ung thư đã diễn tiến nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong cao. Vào năm 2020, trên toàn thế giới ước tính có khoảng 45.240 người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư âm hộ, trong đó có khoảng 17.427 người vì căn bệnh này.
Ung thư vòm họng là căn bệnh phổ biến, thuộc nhóm “ung thư đầu và cổ” do tăng sinh tế bào vảy lót ở vòm họng, bao gồm ung thư hầu họng (phần giữa của họng), ung thư mũi hầu (phần trên của họng, ngay sau mũi) và ung thư hạ hầu (ung thư hạ họng – phần dưới cùng của họng). HPV type 16 và 18 được xác định là nguyên nhân chính gây ra ung thư vòm họng. Mặc dù ung thư vòm họng khá hiếm gặp trên toàn thế giới nhưng ở Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh khá cao là 12%.
Ung thư hậu môn là các loại ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư tuyến, ung thư hạch, khối u ác tính, ung thư biểu mô tế bào đáy. HPV type 16 và 18 là nguyên nhân chính gây ra ung thư hậu môn. Theo thống kê, năm 2020 trên toàn thế giới có khoảng 50.685 người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư hậu môn, trong đó có đến 19.293 ca tử vong.
Theo ước tính của Hiệp hội Ung thư Lâm sàng Hoa Kỳ vào năm 2022, Mỹ có khoảng 9.440 trường hợp ung thư hậu môn và khoảng 1.670 ca tử vong do căn bệnh này. Tại Việt Nam, theo thống kê của GLOBOCAN, năm 2020 ghi nhận 579 ca mắc mới và 321 ca tử vong do ung thư hậu môn.
Để phòng ngừa 12 type HPV nguy cơ cao, người dân có thể áp dụng các biện pháp sau:
Tiêm vắc xin là biện pháp phòng ngừa HPV an toàn và hiệu quả nhất. Vắc xin Gardasil và Gardasil 9 (MSD – Mỹ) là hai loại vắc xin được cấp phép lưu hành tại Việt Nam, có khả năng phòng ngừa mụn cóc sinh dục và các bệnh lý ung thư nguy hiểm như: ung thư cổ tử cung, ung thư hậu môn, ung thư hầu họng, ung thư âm hộ/âm đạo, tổn thương tiền ung thư/loạn sản… do HPV gây ra.
Gardasil là vắc xin tứ giá phòng ngừa 4 chủng HPV (6, 11, 16 và 18), trong đó phòng được 2 type HPV nguy cơ cao là 16 và 18. Vắc xin được chỉ định tiêm cho trẻ em gái và phụ nữ từ 9 – 26 tuổi. Với phạm vi bảo vệ và hiệu quả phòng ngừa được mở rộng, vắc xin Gardasil 9 là vắc xin cửu giá phòng ngừa 9 chủng HPV bao gồm HPV tuýp 6, 11, 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58, trong đó phòng được 7 type HPV nguy cơ cao là 16, 18, 31, 33, 45, 52 và 58. Vắc xin được chỉ định tiêm cho cả nam và nữ từ 9 – 45 tuổi với hiệu quả lên đến trên 90%.
Lịch tiêm của vắc xin Gardasil (Mỹ):
Bé gái từ 9 tuổi đến dưới 14 tuổi
Phác đồ 2 mũi:
Phác đồ 3 mũi:
Phác đồ tiêm nhanh:
Bé gái từ 14 tuổi và phụ nữ đến 26 tuổi
Phác đồ 3 mũi:
Phác đồ tiêm nhanh:
Lịch tiêm vắc xin Gardasil 9:
Người từ tròn 9 tuổi đến dưới 15 tuổi tại thời điểm tiêm lần đầu tiên:
Phác đồ 2 mũi:
Phác đồ 3 mũi (0 – 2 – 6):
Người từ tròn 15 tuổi đến 45 tuổi tại thời điểm tiêm lần đầu tiên:
Phác đồ 3 mũi (0 – 2 – 6):

HPV chủ yếu lây truyền qua đường tình dục, đặc biệt đối với những đối tượng thực hiện quan hệ tình dục không an toàn như không sử dụng bao cao su, quan hệ với nhiều bạn tình… Do đó, để hạn chế nguy cơ lây nhiễm HPV, cả nam và nữ cần chú ý quan hệ tình dục lành mạnh, an toàn bằng cách sử dụng bao cao su, màng chắn nha khoa đầy đủ, duy trì mối hệ hôn nhân chung thủy 1 vợ – 1 chồng.
Một trong những cách phòng ngừa 12 type HPV nguy cơ cao hiệu quả, cùng với chủ động tiêm ngừa vắc xin HPV đầy đủ, đúng lịch và trở thành “bộ đôi” phòng bệnh toàn diện là kiểm tra sức khỏe định kỳ. Phương pháp này giúp phát hiện sớm những biến đổi của tế bào có khả năng gây ung thư. Từ đó, có phác đồ điều trị kịp thời để tránh tế bào bất thường phát triển, diễn tiến thành ung thư.
Với phụ nữ, có 2 loại xét nghiệm tế bào nhằm tầm soát ung thư cổ tử cung là xét nghiệm Pap smear truyền thống và xét nghiệm Thinprep hiện đại. Ngoài ra, có thể thực hiện xét nghiệm sàng lọc như: HPV test, khám cổ tử cung với acid acetic (là nghiệm pháp chấm cổ tử cung bằng dung dịch acid acetic 3-5% và quan sát bằng mắt thường để phát hiện những tổn thương tiền ung thư),…

HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH
Bài viết trên vừa cung cấp đến người dân những thông tin về 12 type HPV nguy cơ cao. Có thể thấy, các type HPV nguy cơ cao chính là “kẻ thù thầm lặng” đe dọa sức khỏe của cả nam và nữ, Để phòng ngừa các type HPV nguy cơ cao gây bệnh, chuyên gia khuyến cáo tất cả trẻ em và người lớn, bất kể nam hay nữ, đã quan hệ tình dục hay chưa, chưa nhiễm HPV hay đã nhiễm HPV rồi cần chủ động tiêm vắc xin HPV đầy đủ, đúng lịch và tiêm càng sớm càng tốt trong độ tuổi khuyến cáo từ 9 – 45 tuổi. Đồng thời, thực hiện tầm soát sức khỏe định kỳ và tập thói quen quan hệ tình dục an toàn bằng cách sử dụng bao cao su, màng chắn nha khoa…