Tê tay nhiều ngày không hết, ông Vũ, 66 tuổi, được chẩn đoán huyết áp hai tay không đều do hẹp nặng động mạch cung cấp máu cho tay trái.

Ông Vũ có tiền căn tăng huyết áp, mắc bệnh xương khớp nhiều năm. Gần đây ông tê cánh tay trái, lan xuống các đầu ngón tay. Thời gian đầu, ông nghĩ do bệnh khớp tái phát mùa lạnh nên không đi khám. Đến khi cơn tê tay khiến giấc ngủ của ông chập chờn, ảnh hưởng đến sinh hoạt, thậm chí tập thể dục cũng khó khăn, ông mới đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM thăm khám.
ThS.BS.CKII Hồ Anh Tuấn, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, cho biết có nhiều nguyên nhân gây tê tay như bệnh xương khớp, hội chứng ống cổ tay, rối loạn tuyến giáp, bệnh Lyme, hội chứng lối thoát lồng ngực…
Tuy nhiên, ông Vũ chỉ tê một bên tay, khả năng có thể liên quan đến tình trạng thiếu máu nuôi. Bác sĩ tiến hành đo huyết áp hai tay cho ông, ghi nhận độ chênh lệch khá cao, tay phải 140/80 mmHg, tay trái 110/70 mmHg. “Điều này chứng tỏ tay trái thiếu máu nuôi nghiêm trọng”, bác sĩ Tuấn khẳng định. Kết quả chụp DSA cho thấy bệnh nhân hẹp rất nặng (90%) gốc động mạch dưới đòn trái.
Động mạch dưới đòn là mạch máu chính cung cấp máu cho cánh tay. Khi động mạch này bị hẹp, dòng chảy của máu đến cánh tay chậm lại, gây đau mỏi, tê tay, chuột rút, chóng mặt thoáng qua do máu lên não qua nhánh động mạch đốt sống xuất phát từ động mạch dưới đòn giảm.
Tương tự các bệnh mạch máu ngoại biên khác, hẹp động mạch dưới đòn nếu không được chẩn đoán, điều trị kịp thời sẽ dẫn tới biến chứng do giảm tưới máu ở các nhánh mạch sau chỗ hẹp như cơn thiếu máu não thoáng qua (do động mạch đốt sống xuất phát sau chỗ hẹp), tắc mạch máu do mảng xơ vữa nứt vỡ, hội chứng cướp máu dưới đòn… Ngón tay có nguy cơ viêm loét, hoại tử vì không được cung cấp đủ máu nuôi trong thời gian dài.
GS.TS.BS Võ Thành Nhân, Giám đốc Trung tâm Tim mạch Can thiệp, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM chia sẻ, có hai phương pháp can thiệp để giải quyết các trường hợp hẹp nặng động mạch dưới đòn, gồm đặt stent nong mạch và phẫu thuật bắc cầu. Trong đó, đặt stent là phương pháp ít xâm lấn nên được ưu tiên lựa chọn. Ê kíp tiến hành thủ thuật đặt stent cho ông Vũ để phòng ngừa nguy cơ tắc mạch chi cấp tính vì thủ thuật này sẽ nhẹ nhàng cho bệnh nhân hơn phẫu thuật.

Trong vòng một giờ, bác sĩ luồn ống thông để đưa dụng cụ tới vị trí mạch máu hẹp, đặt thành công 1 stent vào đoạn gốc động mạch dưới đòn trái. Chụp DSA sau can thiệp ghi nhận stent nở tốt, lượng máu tưới trở nên dồi dào. Huyết áp hai tay bệnh nhân về mức tương đương, 140/80 mmHg.
Một ngày sau, ông Vũ hết hẳn tê tay, sinh hoạt bình thường, được hướng dẫn tập vật lý trị liệu để phục hồi chức năng vận động của cánh tay. Ông xuất viện sau 3 ngày, tiếp tục tái khám định kỳ và tập vật lý trị liệu đều đặn.
Ước tính khoảng 2% dân số bị hẹp động mạch dưới đòn. Song phần lớn bệnh nhân không có triệu chứng do bệnh tiến triển chậm. Các dấu hiệu thường chỉ xuất hiện khi đường kính lòng mạch bị thu hẹp trên 50%. Ngoài ra, một số bệnh nhân còn lầm tưởng các triệu chứng chóng mặt, đau và tê tay… là do bệnh lý khác, dẫn tới chậm trễ đi khám, làm giảm hiệu quả điều trị.
Nguyên nhân phổ biến gây hẹp động mạch dưới đòn là do sự tích tụ mảng xơ vữa bên trong thành động mạch. Khi quá trình này tiến triển sẽ dẫn đến hẹp lòng động mạch và gây ra vôi hóa thành động mạch. Do đó, mỗi người nên tuân thủ lối sống lành mạnh nhằm ngăn sự hình thành của mảng xơ vữa. Cụ thể, có chế độ ăn ít cholesterol và mỡ bão hòa, không hút thuốc lá, tích cực tập thể dục, kiểm soát cân nặng, tránh căng thẳng. Kiểm soát các yếu tố nguy cơ như đái tháo đường, tăng huyết áp, rối loạn lipid máu. Đi khám ngay khi xuất hiện triệu chứng bất thường.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH