8 tháng không quan hệ do viêm nhiễm nhiều lần và chồng đau khi “xâm nhập”, chị Q. đi khám, phát hiện trong âm đạo lộ ra mảnh lưới 2cm. Tình trạng này xuất hiện chỉ sau khi chị Q. thực hiện phẫu thuật đặt lưới điều trị sa bàng quang tại bệnh viện gần nhà.

Tháng 1 năm nay, chị M.K.Q. (42 tuổi, An Giang) được chẩn đoán sa bàng quang độ 2 kèm tiểu không tự chủ (són tiểu) nhẹ. Chị được phẫu thuật qua niệu đạo để đặt tấm lưới 4 nhánh, cố định và đưa bàng quang trở về vị trí tự nhiên.
Một tháng sau phẫu thuật, chị bị viêm âm đạo, điều trị nhiều lần không khỏi. “Chuyện vợ chồng” cũng bất ổn do chồng chị bị đau khi “thâm nhập”. Tần suất quan hệ của vợ chồng giảm dần rồi ngừng hẳn. Khi đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, vợ chồng chị đã không quan hệ trong 8 tháng.
Tiến sĩ bác sĩ Lê Phúc Liên, Trưởng đơn vị Niệu Nữ, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, thực hiện khám và nội soi âm đạo, phát hiện thành âm đạo người bệnh bị hở, cách bờ màng trinh khoảng 7cm lộ ra một mảnh lưới khoảng 2cm. Đây là một phần của tấm lưới 4 nhánh được đặt vào để điều trị sa bàng quang trước đó.
Theo bác sĩ Liên, biến chứng này không thường gặp trong phẫu thuật đặt lưới đường âm đạo điều trị sa bàng quang. Nguyên nhân có thể do trong quá trình bóc tách làm mỏng thành âm đạo, dẫn đến thiếu máu nuôi hay do xung quanh vùng phẫu thuật bị nhiễm trùng, chất lượng lưới, khiến lưới dần lộ ra sau phẫu thuật.
Thực tế, chị Q. còn trẻ, chỉ bị sa bàng quang độ 2, có thể tập sàn chậu, chưa cần phẫu thuật. Trường hợp cần phẫu thuật, phương pháp đặt lưới 4 nhánh đường âm đạo hiện ít được lựa chọn, trừ một số trường hợp người bệnh lớn tuổi, không còn nhu cầu quan hệ tình dục.
Với tình trạng của chị Q. có 2 phương án phẫu thuật điều trị, gồm: cắt bỏ phần lưới lộ ra rồi che lại bằng thành âm đạo hoặc lấy mô mỡ có cuống đặt vào giữa tấm lưới và thành âm đạo tạo thành một vùng đệm để không cho lưới lọt vào âm đạo.
Do chị Q. còn trẻ, thành âm đạo dày, lượng máu nuôi tốt, mảnh lưới chưa làm tổn thương đến bàng quang nên bác sĩ chỉ định phương án đầu tiên.
Phẫu thuật cho chị Q. là các bác sĩ Đơn vị Niệu Nữ, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM: TS.BS Lê Phúc Liên, Trưởng đơn vị; BS.CKI Lý Minh Hoàng và ThS.BS.CKI Nguyễn Văn Nghĩa. Ê kíp bộc lộ âm đạo rồi tạo một đường mổ ngắn, cắt bỏ phần lưới “thừa” rồi khâu thành âm đạo 2 lớp để che lưới. Ca mổ hoàn thành trong 40 phút.

Bác sĩ Liên cho biết trường hợp lộ lưới nặng, thậm chí phải phẫu thuật gỡ toàn bộ tấm lưới. Tuy nhiên, do tấm lưới có diện tích lớn, nếu gỡ ra có nguy cơ dẫn đến rò bàng quang – âm đạo (nước tiểu từ bàng quang chảy qua âm đạo), đồng thời, khiến phẫu thuật điều trị sa bàng quang trước đó thất bại.
2 ngày sau phẫu thuật, chị Q. phục hồi tốt, ít đau, được xuất viện. Bác sĩ chỉ định đặt thêm thuốc nội tiết vào âm đạo để tăng lưu lượng máu nuôi, hạn chế nguy cơ tái phát lộ lưới.
Trở lại tái khám sau 2 tháng phẫu thuật, chị Q. không còn lộ lưới âm đạo, són tiểu, tái phát viêm âm đạo, khó chịu khi “gần gũi” chồng.
Lộ lưới hay xói mòn lưới âm đạo (mesh erosion) là biến chứng ít gặp sau phẫu thuật đặt lưới điều trị sa bàng quang hay tiểu không tự chủ.
Một nghiên cứu được đăng trên tạp chí Sản phụ khoa và Sinh học sinh sản châu Âu số 177 cho thấy chỉ có 4,2% phụ nữ bị lộ lưới âm đạo nhưng trong đó, có 67,2% trường hợp phẫu thuật đặt lưới dưới niệu đạo điều trị són tiểu (T.O.T).
Tại Đơn vị Niệu Nữ, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM, bác sĩ Liên cho biết chị Q. là trường hợp lộ lưới đầu tiên gặp phải ở người trẻ.
Phụ nữ lớn tuổi, thiếu nội tiết tố nữ, thừa cân béo phì, có bệnh nền tiểu đường (đái tháo đường), có thói quen hút thuốc lá, tăng huyết áp, có vết mổ rạch âm đạo lớn trên 2cm, tiền sử phẫu thuật điều trị sa tạng chậu (sa bàng quang, sa âm đạo, sa tử cung, sa niệu đạo…) hay tiểu không tự chủ, có nguy cơ gặp biến chứng lộ lưới âm đạo sau phẫu thuật cao hơn.
Bác sĩ Lê Phúc Liên khuyên phụ nữ gặp tình trạng sa tạng chậu, tiểu không tự chủ cần đến bệnh viện có chuyên khoa Tiết niệu để khám, xác định mức độ, nguyên nhân để có phương pháp điều trị đầy đủ và phù hợp, tránh phát sinh biến chứng sau điều trị.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH