Thấy nhũ hoa tụt vào trong bất thường, bà M. đi khám, phát hiện ung thư vú giai đoạn 2, di căn hạch nách, cần cắt tuyến vú, hóa trị, xạ trị.

Tại khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ, BVĐK Tâm Anh TP.HCM, bác sĩ khám cho bà H.T.M. (69 tuổi, Bình Thuận) nhận thấy nhũ hoa bầu ngực phải tụt vào trong, phía dưới có u cứng nghi ngờ ung thư. Kết quả chụp nhũ ảnh ghi nhận ngực phải có tổn thương 3cm, xâm lấn co kéo gây tụt nhũ hoa kèm theo dày da xung quanh.
Người bệnh được sinh thiết khối u và hạch nách, xác định ung thư vú phải di căn hạch. Bà M. được hội chẩn với khoa Ung Bướu để lên kế hoạch phẫu thuật, sau đó dựa vào kết quả giải phẫu bệnh loại mô tế bào học và mức độ xâm lấn sẽ lựa chọn phác đồ hóa trị phù hợp, ngăn chặn tái phát và di căn.
Bà M. cho biết bà không bị tụt nhũ hoa bẩm sinh. Gần đây thấy nhũ hoa dần tụt vào trong nhưng nghĩ do áo ngực chèn ép. Con thúc giục, bà mới đi khám.
Bác sĩ khoa Ngoại Vú – Đầu Mặt Cổ thực hiện phẫu thuật cho bà M. theo phương pháp cắt tuyến vú phải và nạo hạch nách. Kết quả giải phẫu bệnh xác định bà M. bị ung thư biểu mô tuyến vú xâm nhập loại không đặc biệt, giai đoạn 2.

Thạc sĩ Bác sĩ Nguyễn Tiến Sỹ, khoa Ung Bướu, BVĐK Tâm Anh TP.HCM cho biết kết quả giải phẫu bệnh sau mổ xác nhận ung thư vú có xâm nhập mô vú, xâm nhập thần kinh và mạch máu; 2 trên 11 hạch có tế bào u di căn; diện cắt tuyến vú không còn tế bào ác tính. Bà cần truyền 6 toa thuốc hóa trị để tiêu diệt tế bào ung thư còn sót lại, ngăn ngừa tái phát và di căn.
Bà M. được đặt buồng tiêm dưới da ở thành ngực để truyền thuốc an toàn và thuận lợi (giảm nguy cơ thoát thuốc ra ngoài mạch máu (thoát mạch); giúp vận động dễ dàng trong quá trình truyền thuốc, giảm xơ chai và hoại tử mạch máu)…
Mỗi 3 tuần, bà M. đến Khu Điều trị trong ngày – khoa Ung Bướu để truyền thuốc. Điều dưỡng dùng kim đi xuyên qua da vào màng ngăn của buồng tiêm, sau đó truyền thuốc vào cơ thể bà M. Sau 4 tiếng, bà M. hoàn thành 1 toa hóa trị, nghỉ ngơi, theo dõi sức khỏe và trở về nhà trong ngày. Kết thúc hóa trị, bà M. tiếp tục được xạ trị, đồng thời uống thuốc nội tiết nhằm giảm nguy cơ tái phát. Suốt quá trình điều trị, bà M. nhiều lần mệt mỏi, chán ăn. Bà luôn được gia đình và nhân viên y tế động viên cố gắng vượt qua.
Ung thư vú là ung thư thường gặp ở phụ nữ, dẫn đầu số ca ung thư tại Việt Nam với hơn 24.000 ca mắc mới. Bác sĩ Nguyễn Tiến Sỹ cho biết các dấu hiệu như xuất hiện khối u ở tuyến vú hoặc vùng nách, bong tróc da vùng vú, tiết dịch bất thường từ núm vú, tụt núm vú… là những biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân ung thư vú. Tuy nhiên, hiện chưa có thống kê cụ thể về tỷ lệ xuất hiện của các triệu chứng này cũng như mức độ liên quan của từng triệu chứng đến nguy cơ mắc ung thư vú.
Bác sĩ Nguyễn Tiến Sỹ nhận thấy rất nhiều trường hợp tụt núm vú bất thường có liên quan đến ung thư vú, với không ít trường hợp được phát hiện khi đã có di căn hạch nách.
Khối u ác tính thường nằm ngay dưới núm vú, có xu hướng tăng sinh mạch máu để lấy thêm chất dinh dưỡng phục vụ cho sự phát triển. Khi khối u ngày càng lớn, nó sẽ xâm lấn mô liên kết và dây chằng nâng đỡ tuyến vú, gây co kéo vùng da xung quanh, dẫn đến hiện tượng lõm da và tụt núm vú.
Mỗi người, đặc biệt là phụ nữ, nên thực hiện tự khám vú định kỳ để phát hiện sớm các bất thường. Khi xuất hiện những dấu hiệu như đã nêu, cần đến khám tại các cơ sở y tế chuyên khoa để được đánh giá, xác định tính chất của khối u và có hướng điều trị phù hợp. Một số phụ nữ có tụt núm vú bẩm sinh; đây là hiện tượng lành tính và không liên quan đến ung thư. Tuy nhiên, nếu núm vú đột ngột bị tụt vào trong, cần lưu ý vì đây có thể là dấu hiệu cảnh báo bệnh ác tính.
Ung thư vú ở giai đoạn sớm điều trị có tỉ lệ khỏi bệnh cao. Ở giai đoạn 0, điều trị kịp thời có cơ hội chữa khỏi hoàn toàn. Với các giai đoạn sớm 1-2, tỷ lệ sống sau 5 năm khoảng 90%, giai đoạn 3-4 lần lượt là 80%-86%, 25%-30%.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH