Kỹ thuật cấy van động mạch chủ qua ống thông (TAVI) hiện đại giúp người bệnh 61 tuổi thoát biến chứng nguy hiểm do hẹp van động mạch chủ nặng hơn 20 năm, suy tim độ 3.

Bà Hạnh được cấy (thay) van động mạch chủ qua ống thông (Transcatheter Aortic Valve Implantation – TAVI) là kỹ thuật xâm lấn tối thiểu, xu hướng tiên tiến nhất trong điều trị thay van động mạch chủ hiện nay. Người bệnh không cần cưa xương ức, không chạy máy tim phổi nhân tạo tuần hoàn ngoài cơ thể, không gây mê toàn thân nên giảm thiểu nguy cơ biến chứng. Quá trình can thiệp chỉ qua một đường mở nhỏ (từ 6-8 mm) nên giúp giảm mất máu, giảm đau, ra viện sớm và phục hồi sức khỏe nhanh chóng.
Thủ thuật hoàn tất sau hơn 2 giờ, van nằm đúng vị trí và không bị di lệch, bà Hạnh có thể ngồi dậy đi lại nhẹ nhàng vài giờ sau đó, triệu chứng khó thở, mệt mỏi được cải thiện. Bà xuất viện 3 ngày sau, trở lại sinh hoạt và ăn uống như bình thường, không có hạn chế thể lực.

Nhiều năm trước, bà Hạnh thường xuyên mệt, uể oải, đau ngực, khó thở. Khám ở bệnh viện tỉnh, bác sĩ chẩn đoán hẹp van tim nhưng không chỉ định can thiệp, chỉ uống thuốc theo toa. Hai tháng gần đây, bà mệt nhiều hơn, đi bộ vài chục bước phải dừng lại nghỉ, khó thở về đêm… nên đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM khám.
Ngày 26/5, GS.TS.BS Võ Thành Nhân, Giám đốc Trung tâm Tim mạch can thiệp, cho biết hình ảnh siêu âm tim xác định bà Hạnh bị hẹp van động mạch chủ nặng (hẹp khít), suy tim độ 3. Van động mạch chủ là van tim nằm giữa thất trái và động mạch chủ, có nhiệm vụ đóng lại để ngăn dòng máu từ động mạch chủ chảy ngược về thất trái trong thời kỳ tâm trương, giúp máu lưu thông đúng chiều từ tim đến các cơ quan khác.
Hẹp van động mạch chủ xảy ra khi van không thể mở ra hoàn toàn, làm giảm hoặc chặn lưu lượng máu từ tim đi nuôi cơ thể. Ban đầu, tim sẽ làm việc nhiều hơn để bù lại lượng máu thiếu hụt, đưa đến các cơ quan. Tuy nhiên đến một thời điểm nào đó, tim sẽ bị quá sức, dẫn đến phì đại cơ tim thất trái hoặc suy tim.
Hẹp van động mạch chủ được chia thành ba mức độ: hẹp nhẹ, hẹp vừa và hẹp khít. Mức độ hẹp càng tăng thì rủi ro suy tim càng lớn. Bên cạnh đó, bệnh nếu không được điều trị đúng cách sẽ dẫn tới các biến chứng nghiêm trọng như viêm nội tâm mạc, loạn nhịp tim, đột quỵ do cục máu đông, tử vong.
Giáo sư Nhân nhận định khi bị hẹp van động mạch chủ nhẹ, người bệnh không cảm thấy bất kỳ dấu hiệu nào. Thỉnh thoảng các triệu chứng xuất hiện mờ nhạt khi hoạt động gắng sức. Đây là lý do khiến bà Hạnh có thể sống chung với bệnh trong nhiều năm, gần đây bệnh tiến triển gây suy tim nặng, cản trở sinh hoạt hàng ngày, bà mới cảm nhận triệu chứng rõ rệt. “Bệnh nhân cần được can thiệp thay van sớm để cải thiện chất lượng sống, tránh biến chứng nguy hiểm”, Giáo sư Nhân nói.
Phương pháp kinh điển thường được áp dụng thay van động mạch chủ là phẫu thuật tim hở. Nhược điểm của phương pháp này là phải cưa xương ức, chạy máy tim phổi nhân tạo, có thể biến chứng nhiễm trùng, có thể ảnh hưởng hô hấp, để lại sẹo, thời gian nằm viện và phục hồi lâu.
Bệnh nhân sau thay van phải dùng thuốc kháng đông thời gian dài, kiêng khem kỹ trong ăn uống và sinh hoạt. Tuy nhiên, khoảng 1/3 số bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật do các bệnh lý nội khoa nặng nề kèm theo như bệnh mạch vành, suy tim trái nặng, suy thận, bệnh phổi, đái tháo đường… Hiện nay nếu áp dụng kỹ thuật TAVI, người bệnh không cần phẫu thuật.
Sau khi chụp cắt lớp vi tính (CT) hệ mạch máu và buồng tim cho người bệnh, Giáo sư Nhân nhận thấy bà có đầy đủ tiêu chí để thực hiện thay van động mạch chủ qua ống thông gồm van động mạch chủ hẹp nặng, có độ chênh áp trung bình qua van > 40mmHg, diện tích qua lỗ van < 1 cm2. Bà Hạnh cũng không muốn trải qua ca mổ mở vì lớn tuổi, sức khỏe không tốt, sợ gặp rủi ro trong và sau mổ. Vì thế, ê kíp chọn phương pháp can thiệp ít xâm lấn cho người bệnh.
Giáp sư Nhân cùng ê kíp thực hiện gây tê tại chỗ cho bệnh nhân. Tiếp đến, các bác sĩ dùng một ống thông luồn từ đùi theo đường mạch máu đến van động mạch chủ bị hẹp. Dưới sự hỗ trợ của hệ thống chụp mạch kỹ thuật số, bác sĩ xác định và đưa van đến vị trí chính xác, bung ra và hoạt động thay thế van tim bị hẹp.
Người bệnh được kê toa kháng kết tập tiểu cầu trong ba tháng, giữ gìn vệ sinh răng miệng, tránh nguy cơ mắc bệnh truyền nhiễm để phòng ngừa van bị nhiễm trùng. Đồng thời, người bệnh cần đề phòng ngừa hẹp van động mạch chủ bằng kiểm soát các yếu tố nguy cơ gây bệnh bao gồm sốt thấp khớp (bệnh viêm họng có thể dẫn đến sốt thấp khớp nếu không được điều trị, gây nhiễm trùng các mô trong cơ thể trong đó có van tim), đái tháo đường, tăng huyết áp, béo phì và cholesterol cao.
Khám sức khỏe định kỳ mỗi 6 tháng một lần hoặc khi xuất hiện các dấu hiệu nghi ngờ mắc bệnh tim mạch như đau ngực, khó thở, mệt mỏi kéo dài, loạn nhịp tim, giảm khả năng gắng sức…

Theo giáo sư Nhân, hẹp van động mạch chủ (ĐMC) là bệnh van tim mắc phải phổ biến, với tỷ lệ 2-7% ở người cao tuổi (≥65 tuổi). Tỷ lệ bệnh ngày càng tăng lên khi dân số già đi. Khi đã biểu hiện triệu chứng nhưng không được cấy van động mạch chủ, tỷ lệ tử vong sau 1 năm lên tới 50%.
Giáo sư Nhân cho biết thêm, trước đây, phẫu thuật thay van động mạch chủ với tuần hoàn ngoài cơ thể là biện pháp tối ưu cải thiện tiên lượng của bệnh nhân hẹp van động mạch chủ có triệu chứng. Tuy nhiên, khoảng 1/3 số bệnh nhân không thể tiến hành phẫu thuật do các bệnh lý nội khoa nặng nề kèm theo như bệnh mạch vành, suy tim trái nặng, suy thận, bệnh phổi, đái tháo đường… Theo khảo sát Tim mạch châu Âu năm 2003, hơn 30% bệnh nhân mắc bệnh van tim nghiêm trọng không được can thiệp, chủ yếu là do có bệnh lý nền.
Cấy van động mạch chủ qua ống thông (TAVI) là kỹ thuật thay thế với rất nhiều ưu việt, như ít xâm lấn, giải phóng tắc nghẽn cơ học ở van động mạch chủ, cải thiện tiên lượng và triệu chứng cho người bệnh, hiệu quả và an toàn không kém phẫu thuật thay van động mạch chủ. Hiệu quả ngoạn mục của kỹ thuật TAVI đã mở ra một kỷ nguyên mới cho việc điều trị bệnh lý hẹp van động mạch chủ, trở thành lĩnh vực phát triển nhanh nhất trong chuyên ngành tim mạch can thiệp.
Sau hơn 2 thập kỷ, kỹ thuật TAVI đã được triển khai ở hơn 80 quốc gia, tốc độ gia tăng 40% số ca mỗi năm, với gần 3 triệu bệnh nhân trên toàn thế giới. Các thiết bị mới ra đời, sử dụng những vật liệu tiên tiến, cùng những cải tiến về quy trình, đã khiến thủ thuật trở nên đơn giản, an toàn, phổ biến. Kỹ thuật này cũng được mở rộng chỉ định cho các đối tượng nguy cơ phẫu thuật trung bình và nguy cơ thấp, bệnh nhân van động mạch chủ hai mảnh, bệnh nhân hở van động mạch chủ đơn thuần.
GS.TS.BS Võ Thành Nhân là chuyên gia đầu tiên tại Việt Nam thực hiện kỹ thuật TAVI, cũng như đào tạo, chuyển giao cho các cơ sở khác về kỹ thuật này. Đến nay giáo sư đã điều trị thành công cho hơn 150 bệnh nhân bằng kỹ thuật TAVI.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH