Sau 3 năm đặt stent tái thông hai nhánh mạch vành, ông Thái, 60 tuổi, bất ngờ đau ngực trở lại. Kết quả kiểm tra cho thấy cả hai stent đã tắc hoàn toàn, kèm hẹp nặng thêm một nhánh mạch vành khác, buộc bác sĩ phải phẫu thuật bắc cầu để phòng nguy cơ nhồi máu cơ tim.
Ba năm trước, ông Thái được đặt stent động mạch liên thất trước và động mạch mũ do hẹp nặng mạch vành. Sau can thiệp, ông dùng thuốc đều và sức khỏe ổn định trong thời gian dài. Tuy nhiên khoảng một tháng gần đây, cơn đau ngực xuất hiện trở lại khi gắng sức, khiến ông đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM kiểm tra.
ThS.BS.CKII Huỳnh Hoàng Khang, Trưởng khoa Ngoại Tim mạch, Trung tâm Tim mạch Can thiệp, cho biết kết quả chụp CT mạch vành ghi nhận cả hai stent đều tắc hoàn toàn. Ngoài ra, động mạch vành phải cũng hẹp nặng 70-80%.
“Đây là tình trạng bệnh mạch vành tiến triển. Tổn thương không chỉ xảy ra tại vị trí đã đặt stent mà còn tiếp tục lan sang các nhánh khác theo thời gian”, bác sĩ Khang nói.
Sau hội chẩn, êkíp đánh giá bệnh nhân mắc bệnh mạch vành đa nhánh phức tạp, tái hẹp sớm sau đặt stent, không còn phù hợp để can thiệp đặt stent lại. Giải pháp tối ưu là phẫu thuật bắc cầu mạch vành nhằm tái lập dòng máu nuôi tim lâu dài.
Các bác sĩ lựa chọn kỹ thuật mổ bắc cầu không dùng tuần hoàn ngoài cơ thể (off-pump). Với phương pháp này, tim vẫn tiếp tục đập trong suốt quá trình phẫu thuật mà không cần ngưng tim như kỹ thuật truyền thống.
Theo bác sĩ Khang, phẫu thuật off-pump giúp giảm phản ứng viêm toàn thân, hạn chế nguy cơ đột quỵ, rối loạn nhịp và các biến chứng hậu phẫu, đồng thời hỗ trợ người bệnh hồi phục nhanh hơn.

Trong ca mổ kéo dài khoảng 4 giờ, êkíp sử dụng động mạch vú trong của chính người bệnh để tạo ba cầu nối tái thông cho ba nhánh mạch vành bị hẹp tắc bằng kỹ thuật off-pump (tim vẫn đập trong quá trình phẫu thuật với hỗ trợ của các dụng cụ chuyên dùng).
Sau phẫu thuật, ông Thái được rút nội khí quản sau 3 giờ, huyết động ổn định và vận động nhẹ trở lại từ ngày hôm sau. Sau một tuần điều trị, bệnh nhân xuất viện, không còn đau ngực.
Bệnh mạch vành là tình trạng các động mạch nuôi tim bị hẹp hoặc tắc do mảng xơ vữa. Đây là nguyên nhân hàng đầu gây nhồi máu cơ tim và đột tử tim mạch.
Theo bác sĩ Khang, nhiều người bệnh lầm tưởng đặt stent là “chữa khỏi” hoàn toàn bệnh mạch vành. Thực tế, stent chỉ giải quyết điểm hẹp tại một vị trí nhất định, trong khi quá trình xơ vữa vẫn tiếp tục tiến triển trong toàn bộ hệ động mạch. Theo thời gian, các mảng xơ vữa có thể tiếp tục phát triển, gây hẹp hoặc tắc tại chính vị trí đã đặt stent (tái hẹp trong stent) hoặc ở những đoạn mạch khác.
Ngoài ra, nguy cơ tắc stent còn tăng lên nếu người bệnh không kiểm soát tốt các yếu tố nguy cơ như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối loạn mỡ máu, hút thuốc lá, thừa cân, ít vận động hoặc không tuân thủ điều trị, đặc biệt là tự ý ngưng thuốc kháng kết tập tiểu cầu sau can thiệp. Điều này lý giải vì sao một số bệnh nhân dù đã can thiệp vẫn có nguy cơ phải điều trị lại, thậm chí cần phẫu thuật như trường hợp ông Thái.
“Ngay cả khi đã đặt stent thành công, người bệnh vẫn phải kiểm soát chặt huyết áp, đường huyết, mỡ máu, bỏ thuốc lá, duy trì vận động và tuân thủ thuốc lâu dài. Việc đến bệnh viện tái khám định kỳ rất quan trọng để phát hiện sớm nguy cơ tái hẹp hoặc tổn thương mới”, bác sĩ Khang khuyến cáo.
*Tên bệnh nhân đã được thay đổi
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH