Bà Thanh, 50 tuổi, chỉ hóa xạ trị cách đây hai năm; nay khối ung thư trực tràng tái phát xâm lấn lớp cơ, mỡ, được robot cắt bỏ thành công.
Bà Thanh từng điều trị ung thư trực tràng bằng hóa xạ trị cho kết quả đáp ứng tốt. Bà từ chối phẫu thuật bổ sung theo chỉ định của bác sĩ do lo sợ “đụng dao kéo”. Khoảng vài tháng gần đây, các cơn đau bụng âm ỉ xuất hiện ngày càng thường xuyên, bà đến Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM kiểm tra và phát hiện ung thư tái phát tại vị trí cũ.
BS.CKII Nguyễn Quốc Thái, Trưởng khoa Ngoại Tiêu hóa, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật Nội soi Tiêu hóa, cho biết kết quả nội soi đại trực tràng thấy một khối u sùi loét ở trực tràng thấp, cách bờ hậu môn khoảng 6 cm. Sinh thiết xác định đây là ung thư biểu mô tuyến biệt hóa vừa. Các khảo sát hình ảnh bằng MRI cho thấy thành trực tràng dày bất thường, tổn thương đã xuyên qua lớp cơ trực tràng và lan vào mô mỡ xung quanh. Một số hạch vùng nghi ngờ di căn.
“Đây là trường hợp tái phát đáng tiếc do người bệnh không hoàn tất phác đồ điều trị triệt căn. Trên thực tế, đáp ứng lâm sàng tốt sau hóa xạ trị không đồng nghĩa với việc tất cả tế bào ung thư đã được loại bỏ”, bác sĩ Thái cho biết, thêm rằng, nhiều tế bào ung thư có thể tồn tại ở mức độ vi thể trong thành trực tràng hoặc các hạch bạch huyết lân cận mà các phương tiện chẩn đoán không thể phát hiện. Nếu không phẫu thuật cắt bỏ vùng tổn thương và nạo vét hạch theo khuyến cáo, nguy cơ tái phát tại chỗ có thể xảy ra.

Sau hội chẩn đa chuyên khoa, các bác sĩ xác định khối u tái phát đã xâm lấn ra ngoài thành trực tràng. Người bệnh được chỉ định hóa xạ trị tiền phẫu nhằm thu nhỏ kích thước khối u, giảm mức độ xâm lấn và tăng khả năng phẫu thuật triệt căn.
Sau 12 chu kỳ điều trị, khối u đáp ứng tốt và đủ điều kiện phẫu thuật. Tuy nhiên, đây là ca mổ có độ khó cao do người bệnh từng phẫu thuật cắt tử cung và một phần buồng trứng trước đó, đồng thời đã trải qua hóa xạ trị nên vùng tiểu khung xuất hiện nhiều mô xơ, sẹo dính và biến đổi giải phẫu.
Các bác sĩ quyết định ứng dụng hệ thống robot Da Vinci Xi phẫu thuật cho bà Thành, giúp khắc phục các thách thức nói trên. Theo bác sĩ Thái, trực tràng nằm sâu trong tiểu khung, vốn có không gian hẹp và tập trung nhiều cấu trúc quan trọng như bàng quang, niệu quản, hệ thần kinh tự chủ và mạch máu lớn. Khi ung thư tái phát hoặc sau hóa xạ trị, các lớp giải phẫu tự nhiên thường bị xóa nhòa, khiến việc bóc tách trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Robot phẫu thuật cung cấp hình ảnh phóng đại độ phân giải cao, giúp quan sát rõ từng lớp mô. Các cánh tay robot có khả năng xoay linh hoạt trong không gian hẹp, hỗ trợ bác sĩ bóc tách chính xác quanh khối u, hạn chế tổn thương mô lành và giảm nguy cơ chảy máu.
Trong quá trình phẫu thuật, êkíp ghi nhận không có dấu hiệu di căn gan hoặc phúc mạc. Khối u trực tràng nằm thấp, vùng mô xung quanh xơ hóa và dính nhiều do tác động của xạ trị cũng như các cuộc phẫu thuật trước đây. Sau nhiều giờ phẫu tích tỉ mỉ, các bác sĩ cắt bỏ toàn bộ đoạn trực tràng chứa khối u, nạo vét hạch vùng và tái lập lưu thông tiêu hóa. Người bệnh được mở hồi tràng bảo vệ tạm thời nhằm giảm áp lực lên miệng nối trong giai đoạn đầu hồi phục.

Sau mổ, bà Thanh có thể ngồi dậy, đi lại từ ngày đầu tiên, bắt đầu ăn lỏng sau hai ngày và xuất viện sau năm ngày. Kết quả giải phẫu bệnh thuộc giai đoạn 3 sau điều trị tiền phẫu. Tuy nhiên bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ cao tái phát, cần phải tiếp tục điều trị bổ trợ.
Theo bác sĩ Thái, ung thư trực tràng là một trong những bệnh lý ác tính đường tiêu hóa phổ biến. Mặc dù các phương pháp điều trị hiện nay đã đạt nhiều tiến bộ, nguy cơ tái phát vẫn tồn tại, đặc biệt ở những trường hợp không tuân thủ đầy đủ phác đồ hoặc phát hiện bệnh ở giai đoạn tiến triển. Tỷ lệ tái phát chung của ung thư trực tràng dao động từ khoảng 10-30% tùy thuộc giai đoạn bệnh, đặc điểm sinh học của khối u và hiệu quả điều trị. Tái phát có thể xảy ra ngay tại vị trí trực tràng cũ, trong vùng chậu hoặc di căn đến các cơ quan khác như gan, phổi, phúc mạc và xương.
Để giảm nguy cơ tái phát, người bệnh cần tuân thủ đầy đủ các bước điều trị được chỉ định, bao gồm hóa xạ trị tiền phẫu khi cần thiết, phẫu thuật triệt căn đúng nguyên tắc ung thư học và điều trị bổ trợ sau mổ nếu có chỉ định. Bên cạnh đó, việc tái khám định kỳ đóng vai trò đặc biệt quan trọng.
Trong ba năm đầu sau điều trị, người bệnh thường được theo dõi bằng khám lâm sàng, xét nghiệm dấu ấn ung thư CEA, chụp hình ảnh và nội soi đại trực tràng định kỳ. Việc phát hiện tái phát ở giai đoạn sớm giúp tăng đáng kể cơ hội điều trị thành công và kéo dài thời gian sống cho người bệnh.
Bác sĩ Thái khuyến cáo người bệnh ung thư không nên tự ý dừng hoặc từ chối các bước điều trị đã được tư vấn chỉ vì triệu chứng cải thiện hoặc kết quả tạm thời khả quan. Với ung thư trực tràng, điều trị triệt căn đòi hỏi sự phối hợp nhiều phương pháp và tuân thủ đầy đủ phác đồ nhằm loại bỏ tối đa nguy cơ tái phát trong tương lai.
(*) Tên người bệnh đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH