Bà Meng, 60 tuổi, từ Campuchia sang Việt Nam điều trị sỏi thận, bất ngờ phát hiện khối u nhầy ruột thừa suýt vỡ, được bác sĩ xử lý cả hai bệnh lý trong một lần.
Bà Meng có tiền sử sỏi thận hơn 10 năm, thường xuyên xuất hiện những cơn đau quặn thận và nhiễm trùng đường tiểu tái diễn. Trước đó, bà từng điều trị sỏi tại một bệnh viện ở Campuchia nhưng bệnh không được giải quyết dứt điểm. Mỗi khi sỏi di chuyển xuống niệu quản gây tắc nghẽn, bà phải đặt ống thông JJ tạm thời để dẫn lưu nước tiểu và kiểm soát nhiễm trùng. Sau đó, viên sỏi lại di chuyển ngược lên đài bể thận, nằm sâu trong hệ thống đài thận khiến việc tiếp cận và xử lý gặp nhiều khó khăn.
Bà Meng, quốc tịch Campuchia, sang Việt Nam với mong muốn điều trị dứt điểm viên sỏi thận gây đau và nhiễm trùng đường tiểu tái diễn hơn 10 năm. Kết quả chụp CT tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP.HCM không chỉ xác định tình trạng sỏi mà còn phát hiện một khối bất thường gần 6 cm ở ruột thừa, có dấu hiệu rỉ dịch.
Tháng 8/2026, bà đến khám tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh TP HCM. Kết quả chụp CT cho thấy nhiều viên sỏi nằm ở đài thận trên, trong đó có viên lớn nhất có đường kính khoảng 10 – 12 mm. Đồng thời phát hiện vùng hố chậu phải của người bệnh còn có một khối u nhầy ruột thừa lớn, kích thước 58 x 25 mm đang rỉ dịch.
BS.CKI Lý Minh Hoàng, Trung tâm Tiết niệu – Thận học – Nam khoa, nhận định nguyên nhân khiến sỏi của bà liên tục tái diễn và khó xử lý nằm ở dị tật hẹp niệu quản bẩm sinh.
Đoạn niệu quản bị hẹp làm cản trở dòng nước tiểu từ thận xuống bàng quang. Khi sỏi di chuyển đến vị trí này, lòng niệu quản càng dễ bị bít tắc, gây ứ đọng nước tiểu, tạo điều kiện cho nhiễm trùng đường tiết niệu tái phát. Đồng thời, đoạn hẹp khiến các dụng cụ nội soi thông thường khó tiếp cận hệ thống đài bể thận, đặc biệt khi viên sỏi đã nằm sâu bên trong.
BS.CKII Võ Ngọc Bích, khoa Gan – Mật -Tụy, Trung tâm Nội soi và Phẫu thuật nội soi tiêu hóa, cho biết, u nhầy ruột thừa là một bệnh lý hiếm gặp với tỷ lệ mắc khoảng 0,2% – 0,7% trong tất cả các mẫu phẫu thuật cắt ruột thừa.
Bệnh lý này có thể tiến triển lành tính hoặc liên quan đến các dạng ung thư khác nhau. Khi khối u phát triển lớn, thành ruột thừa có thể trở nên mỏng và có nguy cơ rò rỉ hoặc vỡ. Nếu chất nhầy và tế bào u thoát vào ổ bụng, người bệnh có thể phát triển giả u nhầy phúc mạc – một tình trạng phức tạp, đòi hỏi điều trị chuyên sâu.
Ở bà Meng, hình ảnh CT cho thấy khối u đã có dấu hiệu rỉ dịch, cần can thiệp sớm, đồng thời đặc biệt lưu ý trong quá trình phẫu thuật phải kiểm soát khối u, tránh làm tổn thương hoặc làm vỡ thêm thành ruột thừa khiến chất nhầy thoát vào ổ bụng.
Sau khi hội chẩn, êkíp quyết định thực hiện hai cuộc phẫu thuật trong cùng một lần gây mê, vừa xử lý dứt điểm sỏi thận, vừa loại bỏ khối u nhầy ruột thừa, giúp bà Meng tránh phải trải qua hai lần phẫu thuật.
Ca mổ đầu tiên, bác sĩ Hoàng rút ống thông JJ cũ, sau đó đưa ống nội soi mềm vào đường tiết niệu, dùng tia laser để tán sỏi. Nhờ đầu ống có thể uốn cong linh hoạt, dụng cụ vượt qua được đoạn niệu quản bị hẹp và tiếp cận sâu vào hệ thống đài bể thận, nơi viên sỏi mắc kẹt. Viên sỏi được tán nhỏ bằng laser và gắp sạch sau đó. Toàn bộ quy trình gắp sỏi được bác sĩ Hoàng tiến hành thông qua hệ thống ống Sheath mềm có đường kính nhỏ chỉ khoảng 3mm giúp bảo vệ cơ thể người bệnh không bị trầy xước bởi các góc cạnh của vụn sỏi trong suốt quá trình lôi sỏi ra ngoài.

Ngay sau đó, êkíp chuyển sang xử lý khối u nhầy ruột thừa. Qua 3 vết rạch nhỏ trên thành bụng, bác sĩ Bích đưa dụng cụ nội soi vào ổ bụng. Khi quan sát trực tiếp, khối u có kích thước khoảng 60 x 30 mm, lớn hơn so với hình ảnh trên CT. Đáng chú ý, tại đầu tận khối u đã xuất hiện một điểm vỡ khoảng 5 x 5 mm, đang tiết chất nhầy, nhưng được mạc nối lớn bao bọc.
Bác sĩ Bích tiến hành bóc tách cẩn thận, kiểm soát gốc ruột thừa bằng 3 clip chuyên dụng. Các thao tác phải đảm bảo khéo léo, bởi nếu khối u tiếp tục rò rỉ hoặc bị vỡ trong quá trình lấy ra, chất nhầy và tế bào u có thể thoát vào ổ bụng. Khối u sau khi bóc tách được cho vào túi bệnh phẩm và lấy ra qua đường rốn, hạn chế nguy cơ chất nhầy tiếp xúc với khoang bụng.
Sau gần 60 phút, cuộc phẫu thuật thứ hai hoàn tất. Bà Meng hồi phục thuận lợi, có thể vận động nhẹ sau mổ và xuất viện sau 48 giờ. Đầu tháng 9/2026, bà tái khám, bác sĩ ghi nhận hệ tiết niệu không còn sỏi và nước tiểu lưu thông tốt.
Hẹp niệu quản bẩm sinh là nguyên nhân khiến dòng nước tiểu từ thận xuống bàng quang bị cản trở, tạo điều kiện cho nhiễm trùng và hình thành sỏi tái diễn. Khi sỏi di chuyển đến đoạn hẹp, nguy cơ tắc nghẽn, ứ nước và nhiễm trùng thận tăng lên.
Bác sĩ Hoàng khuyến cáo, người có tiền sử sỏi thận tái phát, đau quặn thận hoặc nhiễm trùng đường tiết niệu nhiều lần nên chủ động khám chuyên khoa, đặc biệt khi các triệu chứng xuất hiện trở lại hoặc kéo dài. Việc thăm khám và điều trị sớm giúp hạn chế nguy cơ tắc nghẽn đường tiết niệu, ứ nước thận, nhiễm trùng và tổn thương chức năng thận về lâu dài.
U nhầy ruột thừa thường tiến triển âm thầm, không gây triệu chứng rõ ràng và có thể được phát hiện tình cờ khi người bệnh kiểm tra sức khỏe hoặc chụp CT vì một bệnh lý khác. Khi khối u phát triển lớn, thành ruột thừa có thể mỏng và dễ tổn thương, dẫn đến rò rỉ hoặc vỡ. Nếu chất nhầy cùng tế bào u thoát vào ổ bụng, chúng có thể tích tụ và lan rộng, gây giả u nhầy phúc mạc – biến chứng phức tạp, khó điều trị.
Bác sĩ Bích khuyến cáo, khi có dấu hiệu đau bất thường vùng bụng dưới bên phải, rối loạn tiêu hóa kéo dài, người bệnh nên đi khám để được bác sĩ đánh giá. Với u nhầy ruột thừa, cần xử trí sớm để hạn chế nguy cơ khối u rò rỉ hoặc vỡ, dẫn đến biến chứng nguy hiểm.
*Tên nhân vật trong bài đã được thay đổi.
HỆ THỐNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA TÂM ANH